Chương 1: Lý luận chung về hiệu quả thu thuế và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả thu thuế. Chương 2: Thực trạng hiệu quả thu thuế tại huyện Đông Anh. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu thuế tại huyện Đông Anh. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ THU THUẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỂU QUẢ THU THUẾ 1.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ THU THUẾ 1. Đại cƣơng về thuế 1. Khái niệm thuế Thuế trên thực tế đã tồn tại từ khi các Nhà nƣớc hình thành, song các lý luận về kinh tế của thế giới, cho đến nay vẫn chƣa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm về thuế. Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế đƣa ra, mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế, do đó không phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này.
Gần đây trong một số công trình nghiên cứu về thuế các nhà kinh tế cho rằng, để vạch rõ bản chất của thuế thì trong định nghĩa phải nêu bật đƣợc các khía cạnh sau: Nội dung kinh tế của thuế đƣợc đặc trƣng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nƣớc với các pháp nhân và các thể nhân; những mối quan hệ dƣới dạng tiền tệ này đƣợc nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt. Kết hợp những hạt nhân hợp lý của các quan niệm về thuế kể trên, có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế nhƣ sau: Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo các mức độ mà pháp luật quy định. Khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế để phục vụ cho mục tiêu phục vụ lợi ích công cộng. Nguồn thu về thuế không được sử dụng cho mục tiêu cá nhân.
Trong thực tế, ở nƣớc ta hiện nay khi hình thành quỹ tiền tệ tập trung, Nhà nƣớc thực hiện các chức năng của mình trong đó có chức năng quản lý và xây dựng kinh tế thông qua việc kiến thiết, xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi xã hội khác thì ngƣời nộp thuế thông qua đó đựơc hƣởng một phần kết quả nộp thuế của mình. Nhƣ vậy thuế ở nƣớc ta luôn luôn là một khoản thu bắt buộc, không đƣợc hoàn trả trực tiếp cho ngƣời nộp thuế nhƣng họ đƣợc gián tiếp 5 z hƣởng lợi do chính sách đầu tƣ, phát triển của Nhà nƣớc cho các công trình phúc lợi xã hội khác nhau. Thuế hay thu ngân sách nhà nƣớc là việc Nhà nƣớc dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ Ngân sách nhà nƣớc nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nƣớc. Thuế là số tiền thu của các công dân, hoạt động và đồ vật (nhƣ giao dịch, tài sản) nhằm huy động tài chính cho chính quyền nhằm tái phân phối thu nhập hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội.
Đóng thuế vừa là quyền lợi đƣợc thực thi trách nhiệm công dân đóng góp cho sự phát triển phồn vinh của đất nƣớc, vừa là nghĩa vụ phải thực hiện của mỗi công dân. Bản chất, chức năng của thuế Từ khái niệm thuế nói trên ta có thể thấy đƣợc bản chất của thuế đƣợc thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của nó, những thuộc tính đó có tính ổn định tƣơng đối qua từng giai đoạn phát triển. Nghiên cứu về thuế, ngƣời ta thấy có những đặc điểm riêng biệt để phân biệt với các công cụ tài chính khác nhƣ sau: a) Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp nhân dân cho Nhà nƣớc mang tính bắt buộc phi hình sự. Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác của Ngân sách Nhà nƣớc.
Đặc điểm này vạch rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ, đƣợc hình thành khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt, việc động viên mang tính chất bắt buộc của Nhà nƣớc ta. Phân phối mang tính chất bắt buộc dƣới hình thức thuế là một phƣơng thức phân phối của Nhà nƣớc mà kết quả của quá trình đó là một bộ phận thu nhập của ngƣời nộp thuế đƣợc chuyển giao cho Nhà nƣớc mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho ngƣời nộp thuế. Tính cƣỡng bức, bắt buộc của việc chuyển giao thu nhập bắt nguồn từ những lý do sau : 6 z Thứ nhất, hình thức chuyển giao thu nhập dƣới hình thức thuế không gắn với lợi ích cụ thể của ngƣời nộp thuế, do đó không thể sử dụng phƣơng pháp tự nguyện trong việc chuyển giao. Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng Nhà nƣớc tất yếu phải sử dụng quyền lực chính trị để bắt buộc các đối tƣợng có thu nhập phải chuyển giao.
Thứ hai, trong một xã hội hiện đại, các thành viên của cộng đồng ngày càng có nhu cầu cao về hàng hóa công cộng. Nhìn chung đại bộ phận hàng hóa công cộng do Nhà nƣớc sản xuất và cung cấp. Để sản xuất và cung cấp hàng hóa công cộng tất yếu phải bỏ chi phí, các chi phí đó phải đƣợc bù đắp từ nguồn thu nhập của những ngƣời thụ hƣởng hàng hóa công cộng. Song do tính chất của hàng hóa công cộng không thể phân bổ theo khẩu phần để sử dụng và không muốn sử dụng theo khẩu phần, do đó, không có tính cạnh tranh, không thể trao đổi theo cơ chế thị trƣờng.
Chính vì vậy trong việc cung cấp hàng hóa công cộng xuất hiện “ngƣời ăn không” nghĩa là không tự nguyện trả tiền cho việc thừa hƣởng hàng hóa công cộng. Do vậy để có chi phí cho việc cung cấp hàng hóa công cộng, Nhà nƣớc chỉ có thể sử dụng phƣơng pháp bắt buộc “ngƣời ăn không” chuyển giao thu nhập từ khu vực tƣ sang khu vực công. Tuy nhiên tính bắt buộc của thuế không có nội dung hình sự, nghĩa là hành động đóng thuế cho Nhà nƣớc không phải là hành động xuất hiện khi biểu hiện phạm pháp, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của ngƣời công dân. Từ đặc trƣng này, thuế không giống nhƣ các hình thức huy động tài chính khác của ngân sách Nhà nƣớc nhƣ phí, lệ phí, công trái hoặc hình thức phạt bằng tiền.
Hình thức phạt bằng tiền cũng là hình thức bắt buộc, song việc phạt bằng tiền chỉ xảy ra đối với ngƣời nộp phạt khi có hành vi vi phạm luật lệ làm phƣơng hại đến lợi ích nhà nƣớc hoặc cộng đồng. b) Việc chuyển giao thu nhập dƣới hình thức thuế không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, biểu hiện ở các khía cạnh: Thứ nhất, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nƣớc không 7 z hoàn toàn dựa trên mức độ ngƣời nộp thuế thừa hƣởng những dịch vụ và hàng hóa công cộng do Nhà nƣớc cung cấp. Ngƣời nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi Nhà nƣớc phải cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới phát sinh khoản chuyển giao khoản thu nhập cho Nhà nƣớc, mặt khác mức độ cung cấp dịch vụ công cộng của Nhà nƣớc cũng không nhất thiết ngang bằng mức độ chuyển giao. Thứ hai, Khoản chuyển giao thu nhập dƣới hình thức thuế không hoàn trả trực tiếp có nghĩa là ngƣời nộp thuế suy cho cùng sẽ nhận đƣợc các dịch vụ công cộng của Nhà nƣớc.
Đặc điểm này giúp chúng ta phân biệt sự khác nhau giữa thuế và các khoản phí, lệ phí. c) Việc chuyển giao thu nhập dƣới hình thức thuế đƣợc quy định trƣớc bằng pháp luật. Đặc điểm này, một mặt thể hiện tính pháp lí cao của thuế, mặt khác phản ánh sự chuyển giao thu nhập này không mang tính chất tùy tiện mà dựa trên những cơ sở khoa học nhất định và đã đƣợc xác định trong luật thuế. Những tiêu thức thƣờng đƣợc xác định trƣớc đối với thuế là: đối tƣợng chịu thuế, đối tƣợng nộp thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn cụ thể và những chế tài mang tính cƣỡng chế khác.
d) Các khoản chuyển giao thu nhập dƣới hình thức thuế chịu sự ảnh hƣởng của các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội trong những thời kỳ nhất định. Yếu tố kinh tế tác động đến thuế thƣờng là mức độ tăng trƣởng của nền kinh tế quốc dân, thu nhập bình quân đầu ngƣời, giá cả, thị trƣờng, sự biến động của ngân sách Nhà nƣớc. Yếu tố chính trị, xã hội tác động đến thuế thƣờng là thể chế của Nhà nƣớc, tâm lí, tập quán của các tầng lớp dân cƣ, truyền thống văn hóa, xã hội của dân tộc.Do thuế chịu sự ràng buộc của các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội nhƣ vậy nên ngƣời ta thƣờng nói thuế mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội tổng hợp. e) Các khoản chuyển giao thu nhập dƣới hình thức thuế chỉ đƣợc giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lí của nhà nƣớc đối với con ngƣời và tài sản.
8 z Tóm lại, những thuộc tính cơ bản trên đây của thuế đã phản ánh bản chất và nội dung bên trong của thuế. Từ những thuộc tính đó giúp ta phân biệt thuế với các hình thức động viên khác của ngân sách nhà nƣớc trên nhiều phƣơng diện khác nhau. Hệ thống thuế và phân loại thuế 1. Khái niệm hệ thống thuế Hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức khác nhau mà giữa chúng có mối quan hệ mật thiết bao hàm việc xây dựng các sắc thuế, loại thuế; phƣơng pháp thu, nộp trên những nguyên tắc nhất định .Tùy thuộc vào khả năng và ý đồ của từng Nhà nƣớc trong việc điều tiết dòng thu nhập quốc dân, ở những giai đoạn lịch sử cụ thể mà hình thành những hệ thống thuế khác nhau.
Tuy vậy, bất kỳ một hệ thống thuế nào cũng phải bao gồm 2 bộ phận : Hệ thống chính sách thuế và Hệ thống quản lý thuế. Chính sách thuế là tổng hợp các phƣơng hƣớng của Nhà nƣớc trong lĩnh vực thu nộp thuế; quản lý thuế là các biện pháp, thủ pháp thực hiện chính sách thuế để đạt đƣợc những mục tiêu đã định Khi xem xét hệ thống thuế của một quốc gia nhất định, ngƣời ta ít chú ý đến số lƣợng của các sắc thuế, các loại thuế trong hệ thống đó, mà chủ yếu đánh giá, xem xét đến khía cạnh chất lƣợng của nó. Mỗi quốc gia tùy theo điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội ở từng giai đoạn cụ thể mà định hƣớng xây dựng hệ thống thuế riêng của mình.