Chương 1:Tổng quan chung về các Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và Nhật Bản ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam Chương 2:Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam trong bối cảnh thực hiện các hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Nhật Bản. Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam trong bối cảnh thực hiện các hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Nhật Bản. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ CÁC HIỆP ĐỊNH THƢƠNG MẠI TỰ DO (FTA) GIỮA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN ẢNH HƢỞNG ĐẾN THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP CỦA NHẬT BẢN VÀO VIỆT NAM 1. Nội dung cơ bản của các FTA giữa Việt Nam và Nhật Bản ảnh hƣởng đến thu hút đầu tƣ trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam 1.1 Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP) “ASEAN và Nhật Bản ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện (AJCEP) vào tháng 4/2008 và tới 01/12/2008 thì bắt đầu có hiệu lực.
Trước đó, ASEAN và Nhật Bản đã ký Hiệp định khung về đối tác kinh tế toàn diện năm 2003. Hiệp định AJCEP được đánh giá là một Hiệp định thương mại tự do (FTA) toàn diện trong nhiều lĩnh vực, bao gồm thương mại hàng hóa, đầu tư, dịch vụ và hợp tác kinh tế.” Trong Hiệp định AJCEP, Việt Nam cùng các nước thành viên thoả thuận cam kết giảm thuế nhập khẩu hàng hoá từ Nhật Bản, từ đó chi phí nhập khẩu từ Nhật Bản đối với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài của Nhật Bản tại Việt Nam giảm, khuyến khích các nhà đầu tư Nhật Bản đầu tư vốn đầu tư trực tiếp sang thị trường Việt Nam. Theo danh mục biểu thuế quan hài hòa ASEAN AHTN (2007), biểu cam kết giảm thuế trong Hiệp định AJCEP đưa vào lộ trình cắt giảm 8.771 dòng thuế trong trong tổng số 9. Còn lại là 57 dòng thuế CKD ô tô và 562 dòng thuế không cắt giảm.
Theo Hiệp định, Việt Nam cam kết giảm thuế các mặt hàng nhập khẩu từ Nhật Bản lên tới 82% trong thời gian 16 năm và với 10 năm đầu tiên sau Hiệp định thì giảm 69% số dòng thuế. Việt Nam ngay lập tức xoá bỏ thuế quan với 26.3% dòng thuế ngay khi AJCEP có hiệu lực, mục tiêu tới năm 2018 thì xoá bỏ 33.8% số dòng thuế. Lộ trình giảm thuế này được thực hiện tới năm 2025, khi đó, 86% số dòng thuế trong Biều cam 6 kết sẽ được xoá bỏ hoàn toàn thuế quan. Vào các năm 2018, 2023 và 2024 là những năm có những mặt hàng nhất định được cắt giảm xuống chỉ còn 0%, nhưng trong đó phần lớn vẫn là các mặt hàng công nghiệp.
Lộ trình giảm thuế này đã được thực hiện ngay khi Hiệp định bắt đầu có hiệu lực là năm 2008, như vậy tổng lộ trình khoảng 17 năm. Sau 15 năm lộ trình bắt đầu thì Việt Nam cam kết loại bỏ 25.7% và sau 16 năm lộ trình thì khoảng thêm 0.7% số dòng thuế tương ứng.1: Bảng phân tán số dòng thuế xoá bỏ thuế quan theo ngành của Việt Nam theo Hiệp định AJCEP Ngành 2008 2018 2025 1. Máy và thiết bị điện 709 1. Hàng chế tạo khác 233 370 601 6.
Gỗ và sản phẩm gỗ 86 291 502 8. Thiết bị vận tải 85 186 235 9. Khoáng sản 48 262 350 10. Da và cao su 23 153 238 11.
Cá và sản phẩm cá 6 8 157 13. Dầu khí 0 1 9 Tổng 2.321 Nguồn: Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản 7 Bảng 1.1 trên cho thấy: ngay khi Hiệp định có hiệu lực (1/12/2008) thì 2468 dòng thuế (94,6% trong số đó là các mặt hàng công nghiệp) ngay lập tức được xoá bỏ thuế quan.846 số dòng thuế vào năm 2018 được xoá bỏ thuế quan, trong đó chiếm khỏng 91,2% là các mặt hàng công nghiệp. Năm 2025 – năm kết thúc lộ trình, 8321 dòng thuế (trong đó có tới 84,5% số dòng thuế là các mặt hàng công nghiệp) sẽ được xoá bỏ thuế quan. “Các ngành được xoá bỏ thuế quan theo cam kết tập trung vào: hoá chất, máy móc thiết bị điện, máy móc cơ khí, dệt may, kim loại và các sản phẩm nông nghiệp.Trong biểu thuế ưu đãi nhập khẩu của ASEAN - Nhật Bản, các mặt hàng chủ yếu cắt giảm theo danh mục cắt giảm dần đều từ thuế suất cơ sở.
Ngoài ra, những mặt hàng thuộc những danh mục nhạy cảm thì được áp dụng thuế suất cơ sở trong cả lộ trình và được giảm từ thuế suất cơ sở xuống 5% vào năm 2025 và 50% vào năm 2023.”Vì thế, theo lộ trình giảm thuế theo AJCEP thì thuế suất áp dụng có xu hướng giảm dần. Tham gia vào Hiệp định AJCEP, Nhật Bản cam kết giảm thuế nhập khẩu các mặt hàng từ Việt Nam. 94% hàng hoá từ Việt Nam xuất sang Nhật Bản sẽ được xoá bỏ thuế quan nhập khẩu tại Nhật trong 10 năm. Khi AJCEP được thực thi, Nhật Bản ngay lập tức thực hiện cam kết, đã xoá bỏ thuế quan của 7287 dòng thuế (80% biểu thuế).
Khi các nhà đầu tư Nhật Bản đầu tư ra sản xuất ở nước ngoài và nhập khẩu lại các mặt hàng sản xuất được về nước mình với một số lượng lớn sẽ làm cho đồng nội tệ có xu hướng tăng lên. Chính vì vậy, điều này tác động tới tỷ giá đối hoái của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ. Tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ có xu hướng giảm dần khiến cho các nhà sản xuất trong nước tăng cường thực hiện các hoạt động xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho đất nước. Bên cạnh đó, Nhật Bản là nước có xu hướng dùng đồ Nhật nhiều nên sau khi sản xuất tại các nước đầu tư thì họ sẽ xuất khẩu về Nhật Bản đề cung cấp cho thị trường trong nước.
Tuy nhiên, để được cắt giảm thuế quan theo cam kết trong AJCEP thì các nước thành viên phải tuân thủ theo quy tắc xuất xứ hàng hoá. Quy tắc xuất xứ hàng hoá nhằm xác định sự hợp lệ của hàng hoá nhập khẩu để có quyền hưởng các mức ưu đãi thuế quan. Đối với hiệp định AJCEP, quy tắc xuất xứ hàng hoá là đảm bảo 8 tiêu chí chung là RVC(40) hoặc CTH. RVC là “hàm lượng giá trị khu vực của hàng hóa tính theo công thức và hàm lượng đó phải lớn hơn hoặc bằng tỷ lệ phần trăm theo quy định, đồng thời, bước sản xuất cuối cùng phải được làm tại một nước thành viên”.
Nghĩa là để được hưởng ưu đãi thuế nhập khẩu vào Nhật Bản thì Việt Nam cần đảm bảo được ít nhất 40% hàm lượng giá trị hàng hoá được thực hiện tại Việt Nam. CTH nghĩa là trong quá trình sản xuất hàng hoá, tất cả nguyên liệu không có xuất xứ phải trải qua chuyển đổi mã HS ở cấp 04 số. Chính những quy tắc xuất xứ này ảnh hưởng đến việc có được hưởng ưu đãi thuế quan trong cam kết của Hiệp định. Bên cạnh các quy tắc xuất xứ hàng hoá thì các quy tắc trong thương mại: “hàng rào kĩ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm cũng là những vấn đề ảnh hưởng đến thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản.
Việt Nam và Nhật Bản phải đảm bảo các yêu cầu về quy chuẩn kỹ thuật, các tiêu chuẩn và các hoạt động đánh giá sự phù hợp nhằm mục đích tránh những rào cản không hợp lí với thương mại hai nước”. Trong xuất khẩu các mặt hàng thuỷ sản, nông sản ra các thị trường các quốc gia khác, đặc biệt là thị trường Nhật Bản thì vấn đề quan trọng và cần thắt chặt nhất là vệ sinh an toàn thực phẩm. Luật vệ sinh an toàn thực phẩm của Nhật Bản bắt đầu thực hiện từ 29/05/2006, nhằm kiểm soát thực phẩm tránh những dư lượng hoá chất bị cấm, đồng thời đối với những mặt hàng nhập khẩu vào Nhật Bản, có thể nghiên cứu để nâng hạn mức cho phép dư lượng hoá chất. Đảm bảo được những vấn đề về tiêu chuẩn kỹ thuật và về sinh an toàn thực phẩm, quan hệ thương mại giữa hai nước sẽ phát triển hơn, tạo tiền đề thuận lợi cho nguồn vốn đầu tư nước ngoài từ Nhật Bản vào Việt Nam.
Khi tham gia Hiệp định AJCEP, Việt Nam và các nước thành viên sẽ cùng thực hiện Hiệp định GATS, cùng nhau phát triển thương mại dịch vụ. Tất cả các thành viên của ASEAN và Nhật Bản sẽ đưa ra các giải pháp thúc đẩy tự do hoá và các điều kiện thuận lợi khuyến khích hoạt động thương mại dịch vụ giữa Nhật Bản và các quốc gia thành viên ASEAN. Thương mại dịch vụ phát triển trong nước là 9 một yếu tố hấp dẫn các doanh nghiệp nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư, từ đó thu hút vốn đầu tư của Nhật Bản chảy vào Việt Nam. Về thoả thuận hợp tác đầu tư, các quốc gia là thành viên ASEAN và Nhật Bản dựa trên sự phù hợp về chính sách, quy định và pháp luật để đưa ra và giữ các điều kiện thuận lợi, rõ ràng, công khai trong quốc gia mình đối với các hoạt động đầu tư của các quốc gia khác.
Chính vì vậy sẽ nâng cao được chất lượng và khả năng cạnh tranh của môi trường kinh doanh đầu tư của các quốc gia thành viên ASEAN và Nhật Bản thông qua các chính sách tự do hoá, bảo hộ đầu tư, hỗ trợ và phát triển. Hiệp định AJCEP có những mục quy định thống nhất giữa hai nước về tự do hoá đầu tư và bảo hộ đầu tư: Từng bước loại bỏ các biện pháp hạn chế đầu tư, áp dụng nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT) và nguyên tắc tối huệ quốc (MFN). Cụ thể là, khi các nhà đầu tư thuộc các nước là thành viên của AJCEP tiến hành đầu tư tại một quốc gia thành viên khác sẽ được hưởng những ưu đãi và nghĩa vụ như nhau. Từ đó tạo được một môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh, không có sự phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư.
Các nhà đầu tư FDI của Nhật Bản có thể thành lập, mua lại, mở rộng, điều hành, triển khai, vận hành, kinh doanh hoặc các hình thức chuyển nhượng dự án đầu tư khác trong lãnh thổ nước được đầu tư. Tuy nhiên trong hiệp định thương mại giữa ASEAN – Nhật Bản còn có các thành viên khác, khi thực hiện tự do hoá đầu tư và bảo hộ đầu tư sẽ khiến cho các quốc gia ASEAN phải cạnh tranh với nhau để thu hút được nhiều FDI từ phía Nhật Bản.