CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Y VĂN 1. Khái quát về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 1. Định nghĩa Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là một bệnh phổ biến, có thể phòng ngừa và điều trị được, đặc trưng bởi các triệu chứng hô hấp dai dẳng và hạn chế luồng khí, hậu quả của bất thường đường thở và/hoặc phế nang gây ra bởi sự tiếp xúc đáng kể với các hạt hoặc khí độc hại và bị ảnh hưởng bởi các yếu tố vật chủ bao gồm cả sự phát triển bất thường của phổi. Bệnh đồng mắc có tác động đáng kể đến tỷ lệ mắc bệnh và tần suất tử vong [65].
Dịch tễ học Theo WHO (World Health Organization) năm 2019, BPTNMT là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ ba trên toàn thế giới, gây ra gánh nặng kinh tế và xã hội đáng kể. Năm 2019, trên thế giới có 55,4 triệu người tử vong, trong đó riêng BPTNMT đã chiếm tới 6,0% tương đương với 3,4 triệu người [75]. Tại Mỹ, BPTNMT dẫn đến 15,4 triệu lượt khám bệnh, 1,5 triệu lượt khám tại khoa cấp cứu và 726.000 ca nhập viện mỗi năm [40]. Đợt cấp BPTNMT ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và tăng nguy cơ tử vong.
Sau đợt cấp, các triệu chứng và chức năng phổi mất vài tuần để hồi phục và đợt cấp cũng đẩy nhanh tốc độ suy giảm chức năng phổi. Nguy cơ nhập viện vì đợt cấp tăng lên theo tuổi, tình trạng suy tim sung huyết, suy dinh dưỡng và thở oxy tại nhà [80]. Các nghiên cứu cũng cho thấy thời gian nằm viện trung bình là 4,5 ngày đối với các trường hợp nhập viện đơn thuần và đến 16,0 ngày đối với các trường hợp phải nằm hồi sức. Tần suất tử vong thay đổi, xảy ra ở 0,9% trường hợp nhập viện đơn thuần so với 26,5% –39,1% đối với trường hợp nhập viện có đặt nội khí quản ngay từ đầu [22].
Tại Việt Nam, tỉ lệ mắc chung cho toàn quốc ở tất cả lứa tuổi là 2,2% trong đó nam là 3,4% và nữ 1,1%. Còn đối với người trên 40 tuổi tỉ lệ hiện mắc là 4,2% [9]. Với sự gia tăng tỷ lệ hút thuốc lá và già hóa dân số tại các nước đang phát triển, tỷ lệ mắc BPTNMT được dự đoán sẽ tăng cao trong những năm tới. Ước tính đến năm 2030 sẽ có khoảng 5,8 triệu trường hợp tử vong hàng năm trên toàn thế giới do BPTNMT và các rối loạn liên quan [42].
Bệnh học Hít phải khói thuốc lá hoặc các phân tử độc hại khác chẳng hạn như khói từ nhiên liệu sinh khói gây viêm mạn tính ở phổi. Phản ứng viêm mạn tính này có thể gây ra sự phá hủy nhu mô phổi dẫn đến khí phế thũng và phá vỡ cơ chế sửa chữa và bảo vệ bình thường dẫn đến xơ hóa đường thở nhỏ. Những thay đổi bệnh lý này dẫn đến bẫy khí và hạn chế luồng khí tăng dần. Những thay đổi bệnh lý đặc trưng của BPTNMT được tìm thấy ở đường thở, nhu mô phổi và mạch máu phổi [53].
Những thay đổi ở đường thở lớn: − Tăng đại thực bào và tế bào lympho T CD8. − Hiện diện ít bạch cầu neutrophil và bạch cầu eosinophil − Tăng sản tế bào tuyến tiết nhầy và tế bào đài. − Xâm nhập bạch cầu neutrophil và bạch cầu lympho vào các tuyến phế quản. − Loạn sản tế bào biểu mô đường dẫn khí, rối loạn chức năng lông chuyển, tăng sinh cơ trơn và mô liên kết.
Những thay đổi ở đường thở nhỏ: − Tăng số lượng đại thực bào và lympho T (CD8 > CD4). − Tăng số lượng lympho B, nang bạch huyết và nguyên bào sợi. − Ít bạch cầu neutrophil hoặc bạch cầu eosinophil. − Viêm phế quản ở giai đoạn đầu.
− Xuất tiết và viêm. − Mở rộng xuống đường thở nhỏ của tế bào tiết nhầy và tế bào đài. − Xơ hóa và hẹp đường thở tiến triển. Thay đổi ở nhu mô phổi (phế nang) − Tăng số lượng đại thực bào và lympho T CD8.
− Phá hủy thành phế nang do mất tế bào biểu mô và nội mô. − Hình thành khí phế thũng (sự mở rộng bất thường của khoảng chết từ phế quản đoạn xa đến tiểu phế quản tận cùng). − Thay đổi vi thể: khí phế thũng trung tâm tiểu thùy (giãn và phá hủy tiểu phế quản tận cùng thường gặp ở người hút thuốc lá và thường gặp ở thùy trên), khí phế thũng toàn tiểu thùy (phá hủy toàn bộ nang và tuyến thường gặp ở người thiếu hụt α1-antitrypsin và thường gặp ở thùy dưới). − Thay đổi đại thể: tình trạng thay đổi vi thể tiến triển sẽ gây ra những bóng khí có chiều dài khoảng 1cm và chiếm hết lồng ngực.
Thay đổi mạch máu phổi − Tăng số lượng đại thực bào và tế bào lympho T. − Thay đổi sớm: dày lớp nội mạc và rối loạn chức năng nội mạc. − Thay đổi muộn: tăng sinh cơ trơn mạch máu, lắng đọng collagen, phá hủy giường mao mạch. − Phát triển tăng áp phổi và bệnh tâm phế.
Chẩn đoán Khai thác kỹ tiền sử tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ gây bệnh, thăm khám lâm sàng để tìm các dấu hiệu định hướng chẩn đoán: − Bệnh hay gặp ở nam giới trên 40 tuổi. − Tiền sử: hút thuốc lá, thuốc lào (bao gồm cả hút thuốc chủ động và thụ động). Ô nhiễm môi trường trong và ngoài nhà: khói bếp, khói, chất đốt, bụi nghề nghiệp (bụi hữu cơ, vô cơ), hơi, khí độc. Nhiễm khuẩn hô hấp tái diễn, lao phổi.
Tăng tính phản ứng đường thở trong hen phế quản hoặc viêm phế quản co thắt. − Ho, khạc đàm kéo dài, lúc đầu có thể chỉ có ho ngắt quãng, sau đó ho dai dẳng hoặc ho hàng ngày (ho kéo dài ít nhất 3 tháng trong 1 năm và trong 2 năm liên tiếp), ho khan hoặc ho có đàm, thường khạc đàm về buổi sáng. Ho đàm mủ là một trong các dấu hiệu của đợt cấp BPTNMT. − Khó thở: tiến triển nặng dần theo thời gian, lúc đầu chỉ có khó thở khi gắng sức, sau đó khó thở cả khi nghỉ ngơi và khó thở liên tục.
Bệnh nhân “phải gắng sức để thở”, “khó thở, nặng ngực”, “cảm giác thiếu không khí, hụt hơi” hoặc “thở hổn hển”, thở khò khè. Khó thở tăng lên khi gắng sức hoặc nhiễm trùng đường hô hấp. − Các triệu chứng ho khạc đàm, khó thở dai dẳng và tiến triển nặng dần theo thời gian [1]. Khám lâm sàng: − Giai đoạn sớm của bệnh, khám phổi có thể bình thường.
Cần đo chức năng hô hấp ở những đối tượng có yếu tố nguy cơ và có triệu chứng cơ năng gợi ý (ngay cả khi thăm khám bình thường) để chẩn đoán sớm BPTNMT. Nếu bệnh nhân có khí phế thũng có thể thấy lồng ngực hình thùng, gõ vang, rì rào phế nang giảm. − Giai đoạn nặng hơn khám phổi thấy rì rào phế nang giảm, có thể có ran rít, ran ngáy, ran ẩm, ran nổ khi bệnh nhân vào đợt cấp BPTNMT. − Giai đoạn muộn có thể thấy những biểu hiện của suy hô hấp mạn tính: tím môi, tím đầu chi, thở nhanh, co kéo cơ hô hấp phụ, biểu hiện của suy tim phải (tĩnh mạch cổ nổi, phù 2 chân, gan to, phản hồi gan tĩnh mạch cổ dương tính) [1].
X-quang phổi: − BPTNMT ở giai đoạn sớm hoặc không có khí phế thũng, hình ảnh x-quang phổi có thể bình thường. − Giai đoạn muộn có hình ảnh khí phế thũng: phế trường phổi 2 bên tăng sáng, cơ hoành hạ thấp, có thể thấy cơ hoành hình bậc thang, khoang liên sườn giãn. rộng, các bóng, kén khí hoặc có thể thấy nhánh động mạch thùy dưới phổi phải có đường kính > 16mm. − X-quang phổi giúp phát hiện một số bệnh phổi đồng mắc hoặc biến chứng của BPTNMT như: u phổi, giãn phế quản, lao phổi, xơ phổi, tràn khí màng phổi, suy tim, bất thường khung xương lồng ngực, cột sống [1].
Chụp cắt lớp vi tính ngực độ phân giải cao: − Giúp phát hiện tình trạng bóng, kén khí, phát hiện sớm ung thư phổi, giãn phế quản, đồng mắc với BPTNMT. − Đánh giá bệnh nhân trước khi chỉ định can thiệp giảm thể tích phổi bằng phẫu thuật hoặc đặt van phế quản một chiều và trước khi ghép phổi [1]. Điện tâm đồ: Ở giai đoạn muộn có thể thấy các dấu hiệu của tăng áp động mạch phổi và suy tim phải: sóng P cao (> 2,5mm) nhọn đối xứng (P phế), trục lệch phải (> 1100), dày thất phải (R/S ở V6 < 1) [1]. Siêu âm tim: Để phát hiện tăng áp lực động mạch phổi, suy tim phải giúp cho chẩn đoán sớm tâm phế mạn [1].
Đo độ bão hòa oxy qua da (SpO2) và khí máu động mạch: Đánh giá mức độ suy hô hấp, hỗ trợ cho quyết định điều trị oxy hoặc thở máy. Đo SpO2 và xét nghiệm khí máu động mạch được chỉ định ở tất cả bệnh nhân có dấu hiệu suy hô hấp hoặc suy tim phải [1]. BPTNMT nên được nghĩ đến ở bất kì bệnh nhân nào bị khó thở, ho mạn tính, ho đàm và có tiền sử tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ gây bệnh. Chức năng hô hấp là cần thiết để chẩn đoán trong bối cảnh lâm sàng nghi ngờ.
Chỉ số FEV1/FVC sau thuốc giãn phế quản <0.7 khẳng định sự hiện diện của các hạn chế luồng khí không hồi phục và là tiêu chuẩn chẩn đoán BPTNMT. Cách tiếp cận chuẩn đoán BPTNMT được trình bày theo sơ đồ 1. Triệu chứng Yếu tố nguy cơ Khó thở Yếu tố kí chủ Ho mạn tính Hút thuốc lá Khạc đàm Ô nhiễm nghề nghiệp Ô nhiễm trong và ngoài nhà Chức năng hô hấp Cần thiết để thiết lập chẩn đoán Sơ đồ 1. Chẩn đoán phân biệt Lao phổi: gặp ở mọi lứa tuổi, ho kéo dài, khạc đàm hoặc có thể ho ra máu, sốt kéo dài, gầy sụt cân.
X-quang phổi: tổn thương thâm nhiễm hoặc dạng hang, thường ở đỉnh phổi. Xét nghiệm đàm, dịch phế quản: thấy hình ảnh trực khuẩn kháng cồn, kháng acid, hoặc thấy trực khuẩn lao khi nuôi cấy trên môi trường lỏng MGIT Bactec. Giãn phế quản: ho khạc đàm kéo dài, đàm đục hoặc đàm mủ nhiều, nghe phổi có ran nổ, ran ẩm. Chụp cắt lớp vi tính ngực lớp mỏng 1mm, độ phân giải cao: thấy hình ảnh giãn phế quản.
Suy tim sung huyết: tiền sử tăng huyết áp, bệnh lý van tim, nhồi máu cơ tim; x - quang phổi thấy bóng tim to có thể có dấu hiệu phù phổi, đo chức năng thông khí: rối loạn thông khí hạn chế, không có tắc nghẽn. Hen phế quản: hướng dẫn cách chẩn đoán phân biệt hen phế quản và BPTNMT được trình bày trong bảng 1.1 Chẩn đoán phân biệt hen phế quản với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Hen phế quản BPTNMT Thường bắt đầu khi còn nhỏ.