Nghiên cứu chế tạo tấm phủ từ dây khoai lang ứng dụng trong nông nghiệp

Chế tạo tấm phủ từ dây khoai lang, giải pháp nông nghiệp bền vững. Sản phẩm giúp ngăn cỏ dại, giữ ẩm và điều hòa nhiệt độ đất hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2023

70
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tấm phủ dây khoai lang Giải pháp nông nghiệp bền vững

Tấm phủ từ dây khoai lang là một sản phẩm nông nghiệp cách mạng được phát triển từ các vật liệu có thể phân hủy sinh học. Thay vì sử dụng màng nhựa truyền thống gây hại môi trường, tấm phủ này được chế tạo từ dây khoai lang, bông gòn và tinh bột, phủ lớp than đen để tăng hiệu quả. Đây là giải pháp nông nghiệp bền vững nhằm giảm ô nhiễm nhựa trong canh tác. Sản phẩm không chỉ đáp ứng chức năng như màng phủ nhựa mà còn thân thiện với đất đai. Nghiên cứu từ Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đã chứng minh hiệu quả của sản phẩm này trong thực tiễn nông nghiệp.

1.1. Thành phần và quy trình chế tạo

Tấm phủ được tạo ra từ dây khoai lang, bông gòntinh bột với các tỷ lệ khác nhau. Lớp than đen được phủ ngoài cùng với khối lượng không đổi. Quy trình sản xuất sử dụng máy ép nóng ở nhiệt độ 90°C và áp lực 40-50 MPa trong 60 phút. Phương pháp này lấy cảm hứng từ công nghệ vải không dệt, đảm bảo chất lượng và độ đồng nhất của sản phẩm.

1.2. Ưu điểm trong ngăn chặn cỏ dại

Một trong những lợi ích chính của tấm phủ là khả năng ngăn chặn cỏ dại hiệu quả. Các thí nghiệm cho thấy tất cả các chậu được phủ đều không có hạt giống cỏ phát triển, trong khi đất không được phủ có cỏ dại phát triển khá nhiều. Điều này chứng minh hiệu quả chặn cỏ vượt trội của sản phẩm.

II. Tác động tích cực đến đất trồng

Tấm phủ dây khoai lang mang lại những tác động tích cực đáng kể đến chất lượng đất. Nghiên cứu cho thấy sản phẩm có khả năng điều hòa nhiệt độgiữ ẩm đất xuất sắc. Vào ban ngày nắng nóng, nhiệt độ đất được giảm đáng kể đến 8.90°C, giúp bảo vệ cây trồng khỏi stress nhiệt. Vào ban đêm, đất được phủ trở nên ấm hơn, tạo môi trường sinh trưởng lý tưởng. Về độ ẩm đất, hiệu quả giữ ẩm rất tốt, đường biểu thị độ ẩm đất có phủ cao hơn rõ rệt so với đất không được phủ.

2.1. Hiệu quả điều hòa nhiệt độ

Tấm phủ hoạt động như một lớp cách nhiệt tự nhiên, giảm biến động nhiệt độ của đất. Dữ liệu thực nghiệm cho thấy giảm nhiệt tối đa 8.90°C vào buổi trưa, đồng thời tăng nhiệt độ ban đêm. Điều này tạo điều kiện sinh trưởng tối ưu cho cây trồng, giảm stress nhiệt và tiết kiệm năng lượng.

2.2. Khả năng giữ ẩm vượt trội

Khả năng hấp thụ nước của tấm phủ lên đến 242.86% ở một số mẫu, nhờ vào bông gòn trong thành phần. Sản phẩm thấm nước nhanhgiữ ẩm lâu, giảm tần suất tưới nước. Điều này không chỉ tiết kiệm nước mà còn cải thiện điều kiện phát triển của cây trồng.

III. Đặc tính cơ học và độ bền

Tấm phủ từ dây khoai lang sở hữu những đặc tính cơ học nhất định phù hợp với nhu cầu nông nghiệp. Độ bền kéo tối đa đạt 2.98 N/mm², tuy không cao bằng màng nhựa, nhưng đủ để sử dụng trên đất. Một đặc điểm nổi bật là khả năng phân hủy sinh học, với khối lượng giảm 9% sau một tháng sử dụng. Sản phẩm thể hiện tính bền vững vì nó không để lại chất thải nhựa gây ô nhiễm môi trường lâu dài.

3.1. Khả năng chịu lực và độ bền

Mẫu 25-18-5 đạt độ bền kéo tối đa 2.98 N/mm², trong khi mẫu 20-15-6 cho giá trị 1.18 N/mm². Mặc dù thấp hơn màng nhựa, nhưng vẫn đủ để sử dụng trong điều kiện thực tế. Độ giãn dài chỉ từ 3%, cho thấy sản phẩm ít co giãn, phù hợp với vai trò là lớp phủ cố định.

3.2. Khả năng phân hủy sinh học

Một ưu điểm lớntấm phủ có thể phân hủy sinh học, giảm từ 9% khối lượng ban đầu sau một tháng. Cơ tính cũng giảm đáng kể nhưng sản phẩm vẫn hoạt động trong giai đoạn canh tác. Sau khi sử dụng, nó phân hủy hoàn toàn, không gây ô nhiễm dư lâu dài như nhựa.

IV. Triển vọng ứng dụng và phát triển tương lai

Tấm phủ dây khoai lang mở ra triển vọng rộng lớn cho nông nghiệp bền vững tại Việt Nam. Nghiên cứu ban đầu đã chứng minh khả năng ngăn chặn cỏ dại, điều hòa nhiệt độ và độ ẩm hiệu quả. Tuy nhiên, cần tiếp tục cải tiến quy trình chế tạo để tăng độ đồng nhấtcơ tính của sản phẩm. Phương pháp ép nóng hiện tại vẫn có nhược điểm trong phân bố nguyên liệu không đều. Việc nâng cấp công nghệ sản xuất sẽ giúp sản phẩm cạnh tranh tốt hơn với màng phủ nhựa trên thị trường nông nghiệp.

4.1. Thách thức hiện tại và giải pháp

Thách thức chínhtính không đồng nhất trong phân bố dây khoai lang, tinh bột và bông gòn. Sai số đo cao và cơ tính không ổn định do phương pháp trộn thủ công. Giải pháp là ứng dụng công nghệ trộn hóa học hiện đại, sử dụng máy trộn tự động để đạt độ đồng nhất cao hơn.

4.2. Hướng phát triển và ứng dụng mở rộng

Tấm phủ có tiềm năng ứng dụng trong trồng rau, cây ăn quảnông nghiệp hữu cơ. Nghiên cứu tiếp theo nên tối ưu hóa công thức để tìm tỷ lệ nguyên liệu tốt nhất. Ngoài ra, có thể phát triển các biến thể với các tính chất đặc biệt như khả năng chống côn trùng hoặc cung cấp dinh dưỡng.

18/12/2025
Chế tạo tấm phủ từ dây khoai lang ứng dụng trong nông nghiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về lớp phủ nông nghiệp 1.1 Khái niệm về lớp phủ nông nghiệp Lớp phủ được định nghĩa đơn giản là dùng một loại vật liệu phủ lên trên bề mặt đất (tên tiếng anh là mulch), có thể gọi là màng phủ hay tấm phủ. Việc che phủ xong quanh cây trồng làm thay đổi nhiệt độ của đất, hạn chế sự phát triển của cỏ dại, duy trì độ ẩm của đất từ đó giúp cây trồng phát triển và tăng năng suất tốt hơn [1-3]. Tấm phủ này chỉ bắt đầu được biết đến vào năm 1930. Năm 1941, các màng phủ được dùng để trồng các loại cây vì chúng bảo vệ chống lại nạn hạn hán cũng như sương giá làm giảm thiệt hại cho cây trồng trong môi trường khắc nghiệt.

Có 3 loại tấm phủ: hữu cơ (organic), vô cơ (inorganic) và vật liệu đặc biệt (special) [4].1 sẽ giới thiệu một vài loại lớp phủ khác nhau, lần lượt là phủ bằng phân hữu cơ, rơm rạ, vỏ cây, phủ bằng giấy báo, gỗ vụn và mùn cưa. Chúng đều là loại phủ hữu cơ thân thiên với môi trường cũng như dễ tìm kiếm. Các hình còn lại sẽ là màng phủ nhựa, màng màu đen làm từ nhựa và màng nhựa PE tỉ trọng thấp (LDPE).1 Các loại lớp phủ khác nhau [4] 1.1 Tấm phủ hữu cơ Tấm phủ hữu cơ được làm từ thực vật hoặc động vật. Các chất thải nông nghiệp, phế phẩm từ công nghiệp gỗ, thức ăn thừa hay phân từ động vật được sử dụng cho các tấm phủ hữu cơ [4, 5].

Một số lợi ích của loại tấm phủ này có thể kể đến như chúng có khả năng giảm thiểu quá trình rửa trôi nitrat, cải thiện chất lượng của đất trồng, tăng cường hoạt động sinh học với các hoạt động như hấp thụ, phân phối, trao đổi chất [6], cân bằng chu trình nitrogen, cung cấp chất hữu cơ, kiểm soát nhiệt độ và khả năng giữ nước cũng như giảm sự xói mòn đất. Một số loại tấm phủ hữu cơ có thể kể đến như: - Rơm: Là thân cây khô, phần sau khi thu hoạch các loại cây như lúa, cỏ, đậu, khoai, các loại cây thân thảo khác hay cây thân dây leo. Loại vật liệu này chủ yếu làm lớp phủ ở đồng ruộng do số lượng có nhiều từ cây lương thực. Tuy nhiên nếu chỉ sử dụng rơm để phủ sẽ gây ra một vài vấn đề.

Chúng cần phải được thay hàng năm vì 5 rất dễ bắt cháy hay các hạt giống còn sót trong rơm có thể sẽ nảy mầm và làm mất đi lượng nitrogen từ đất khi lớp phủ này phân hủy. - Vỏ cây: Là loại vật liệu dùng để phủ khá hiệu quả nhờ vào khả năng giữ ẩm trong thời gian dài và cung cấp nước cho cây trổng. Tuy nhiên vỏ cây không thích hợp để phủ trên đất trồng rau củ do chúng có tính acid. - Dăm gỗ: Có thể làm bằng gỗ tái chế và từ nhiều loài cây khác nhau.

Hàm lượng C:N (Carbon:Nitro) của dăm gỗ cao nên nó có thể hạn chế lượng nitro có sẵn trong đất để cây hấp thụ chúng khi loại vật liệu này phân hủy. - Mùn cưa: là một loại mùn phổ biến vì đây là các sản phẩm phụ hay chất thải từ các hoạt động chế biến gỗ như cưa, bào hay phay gỗ. Nó có giá trị dinh dưỡng thấp hơn so với rơm và chỉ bằng một nửa chất dinh dưỡng. Sự phân hủy diễn ra rất chậm do tỷ lệ C:N cao, khi phân hủy sẽ dẫn đến thiếu hụt N2 trong đất, đòi hỏi phải sử dụng phân bón thường xuyên.

Ngoài ra, do tính chất acid của mùn cưa nên lưu ý không sử dụng trong đất có độ pH thấp. Tuy nhiên, loại phủ này vẫn có ưu điểm là giữ được độ ẩm trong một khoảng thời gian dài. - Phân hữu cơ: Đây là một loại phủ phổ biến và có truyền thống lâu đời do chúng dễ dàng tự làm bằng cách dùng nhiều loại chất thải như lá cây, rơm, cỏ và một số chất thải nông nghiệp khác. Phân hữu cơ có khả năng điều hòa đất rất tốt, làm tăng các đặc tính của đất và hàm lượng carbon, giúp cải thiện độ ẩm và độ bền của đất.

Mặt khác, hàm lượng N cao nên được khuyên hạn chế dùng cho rau vì khả năng cỏ dại sẽ phát triển nhiều hơn. - Giấy báo: Che phủ bằng giấy báo giúp tiết kiệm chi phí và thời gian trong việc giảm cỏ dại bằng cách ngăn chặn mầm của hạt cỏ dại rơi vào. Các tờ báo phân hủy nhanh chóng vào đất nên vì thế sẽ cần phải kiểm tra thường xuyên và do chúng không bền khi gặp nước nên vẫn chưa phù hợp để trồng trên ruộng. Tuy nhiên loại phủ này với các thành phần tự nhiên rất khó để áp dụng để trồng trọt và đòi hỏi rất nhiều công sức để có thể sử dụng rộng rãi do các vấn đề về chi phí hay hậu cần.

Hiện nay chỉ có một lượng nhỏ sử dụng trong thương mại với quy mô lớn [4]. Đã có nhiều nghiên cứu về tấm phủ hữu cơ và có các kết quả khả quan như màng không dệt dựa trên sợi gai có thể phân hủy sinh học từ Viện Cây trồng lấy sợi Bast, Học viện Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc [7] hay phát triển màng phủ không dệt có thể phân hủy dựa trên sợi tự nhiên có thể tái chế được từ phế phẩm nhà máy của các nhà khoa 6 học từ đại học Donghua, đại học Tân cương và Học viện Khoa học Nông nghiệp Tân Cương đã nghiên cứu [8].2 Màng vải không dệt sợi gai/tinh bột [7] 1.2 Tấm phủ vô cơ Màng nhựa như polyethylene hay polymer tổng hợp là nguyên liệu chính cho lớp phủ vô cơ [4]. Có hai loại màng phủ nhựa chính: màng nhựa trong suốt và màng nhựa màu. Phủ bằng loại nhựa trong suốt chiếm khoảng 99 % tổng lượng màng nhựa tiêu thụ [9].

Các loại vật liệu để làm tấm phủ nhựa này thường là PE, PP, polyvinyl cloride (PVC) và các loại nhựa nhiệt dẻo khác [1, 4]. Trong những năm 60, nhiều loại màng nhựa dựa trên các những polymer khác nhau đã được thử nghiệm để kiểm tra khả năng che phủ của chúng. PVC, polyethylene tỉ trọng cao (HDPE) và LDPE đều cho thấy không có quá nhiều sự khác biệt kỹ thuật. Tuy nhiên, polyethylene mạch thẳng tỷ trọng thấp (LLDPE) tiết kiệm chi phí hơn khi sử dụng nên loại màng này đã chiếm phần lớn các loại lớp phủ ngày nay.3 Màng phủ từ nhựa PE Năm 1948, màng nhựa lần đầu được sử dụng bởi giáo sư Emmert tại đại học Kentucky, ông được xem là cha đẻ của sự phát triển của sử dụng nhựa trong nông nghiệp (plasticulture) ở Mỹ.

Kể từ thời điểm này thì màng nhựa dùng để trồng cây hay rau củ ngày càng rộng rãi [9, 10]. Năm 1999, lớp phủ bằng nhựa đã được sử dụng với diện tích hơn 22 triệu ha đất canh tác trên toàn thế giới. Riêng Trung Quốc vào năm 2002 đã phủ đến 15 triệu ha các tấm nhựa. Các thống kê cho thấy hàng năm trên toàn thế giới sử dụng trung bình 700.000 tấn tấm nhựa để làm lớp phủ [4].

Theo số liệu từ Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), ước tính khoảng 7.4 triệu tấn màng nhựa đã sử dụng để phục vụ cho nông nghiệp và cũng theo dữ liệu từ bài báo này tổng hợp thì 40 % số lượng nhựa dùng trong ngành này là từ màng phủ nhựa. Dự kiến thị trường lớp phủ nhựa này sẽ tăng 50 % từ 6.1 triệu tấn lên 9.5 triệu tấn vào năm 2030 [1].3 Tấm phủ đặc biệt [4] Một số loại màng có thể phân hủy sinh học (BM) hay phân hủy quang học là những vật liệu đặc biệt làm tấm phủ. Đây chính là loại lớp phủ cùng với lớp phủ hữu cơ làm giải pháp thay thế lớp phủ PE nhờ khả năng phân hủy thân thiện với môi trường. BM hiện nay bao gồm nhiều loại polymer hoặc chất phụ gia có sẵn trên thị trường toàn cầu như lớp phủ LDPE.

Tinh bột, cellulose, polyhydroxyalkanoates (PHA) và polylactic acid (PLA) là các polymer điển hình để sử dụng làm BM. Ngoài ra còn có các loại polymer khác có nguồn gốc từ nguyên liệu hóa thạch như polybutylene succinate (PBS), polybutylene succinate-co-adipate (PBSA) và polybutylene-adipate-co- 8 terephthalate (PBAT). Thông thường các liên kết ester hay polysaccharides dễ bị thủy phân bởi các sinh vật, chúng được tìm thấy có trong các polymer để sử dụng làm BM. Về mặt lý thuyết thì các vi sinh vật dị hóa hoàn toàn BM và chuyển hóa hoàn toàn thành sinh khối vi sinh vật, CO2 và nước [11].4 Màng phủ không dệt từ (a) sợi viscose và (b) nhựa PLA [12] 1.3 Ưu điểm và nhược điểm của tấm phủ 1.1 Ưu điểm Sử dụng màng phủ trong nông nghiệp giúp cải thiện các tính chất của đất như nhiệt độ, độ ẩm hay cấu trúc của đất [2, 4, 10, 12, 13].

Các loại màng phủ nhựa thường sử dụng nhờ vào khả năng kể trên nên quá trình khoáng hóa chất dinh dưỡng của đất cũng tốt hơn. Việc phủ lên đất sẽ giúp phân bón không bị rửa trôi và giữ chất dinh dưỡng ở gần rễ cây [4]. Một lợi ích quan trọng khác là khả năng ngăn chặn cỏ dại phát triển của tấm phủ. Các loại màng có độ truyền ánh sáng càng thấp thì nó sẽ chặn được nhiều ánh sáng từ mặt trời và khiến cho hạt giống cỏ dại khó nảy mầm hơn [8].

Mặt khác, sử dụng màng phủ trong nông nghiệp cũng làm cho cảnh quan đẹp và đồng nhất hơn [4]. Đối với BM (tấm phủ hữu cơ và tấm phủ đặc biệt), các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng màng phủ có thể phân hủy sinh học có các đặc tính trên tương tự như màng phủ PE. Các trang trại trồng khoai tây, bông, cà chua… đã có thể dùng các tấm phủ hữu cơ hoặc màng nhựa phân hủy sinh học thay thế cho màng PE [8, 12-15]. Ngoài ra, màng phủ có thể phân hủy sinh học không ảnh hưởng quá nhiều đến năng suất của cây trồng.

Sản lượng thu được có thể thấp hơn hoặc ngang bằng với màng nhựa PE nhưng lớp phủ hữu cơ cho thấy chúng tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng phát triển và cũng an toàn hơn cho đất so với màng nhựa có thể phân hủy. Ở khía cạnh kinh tế, BM đã tiết 9 kiệm chi phí tài chính ở việc loại bỏ và xử lý màng nhựa sau khi sử dụng [8, 16]. Sau khi phân hủy, lớp phủ hữu cơ cung cấp chất dinh dưỡng cho đất và khả năng cung cấp dinh dưỡng cũng sẽ được lâu dài hơn. Tổng hàm lượng nitro, phốt pho và kali khả dụng của đất đều tăng lên khi xử lý lớp phủ BM.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ