Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ THÁI ĐỘ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP TRẺ MẮC HỘI CHỨNG TỰ KỶ 1. Nghiên cứu về thái độ và thái độ của nhân viên công tác xã hội đối với hoạt động nghề nghiệp 1. Hướng nghiên cứu về thái độ 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Đã có nhiều công trình nghiên cứu về thái độ dưới các góc độ khác nhau.
Người đầu tiên nghiên cứu về thái độ là A. Ông chủ yếu nghiên cứu các khái niệm thái độ chủ quan của con người đối với môi trường. Các khái niệm đó được ông tổng kết trong các tác phẩm của mình như: Chương trình nghiên cứu nhân cách trong mối quan hệ với môi trường (1912), Tâm lý học đại cương và thực nghiệm (1912), Bút ký khoa học về tính cách (1916), Phân loại nhân cách (1917,1924). Theo ông, đời sống tâm lý thực của con người được chia làm hai lĩnh vực [dẫn theo 31].
- Thứ nhất là cái tâm lý bên trong: Là cái cơ sở bẩm sinh của nhân cách, bao gồm khí chất, tính cách và một loạt đặc điểm tâm lý khác. - Thứ hai là cái tâm lý bên ngoài: Là hệ thống thái độ của nhân cách với môi trường xung quanh. Như vậy, theo ông thì thái độ là sự biểu hiện ra bên ngoài của cái tâm lý, phản ứng với các tác động của môi trường xung quanh. Ông đặc biệt quan tâm đến thái độ của con người đối với lao động, với nghề nghiệp, với sở hữu người khác và với xã hội Vào năm 1925, Bogardus là một trong những người đầu tiên sử dụng phương pháp đo lường định lượng trong lĩnh vực tâm lý học xã hội.
Ông đã đưa ra thang đo 7 mức độ với những khoảng cách bằng nhau. Ông cho rằng có thể sử dụng thang đo này để xác định thái độ đối với các nhóm chủng tộc hoặc dân tộc. Những cải tiến của kỹ thuật này cho phép đo lường thái độ đối với bất cứ một nhóm nào, không chỉ là các nhóm dân tộc mà còn mở rộng ra nhiều lựa chọn khác [dẫn theo 53]. Năm 1928, Thurstone đề xuất phương pháp đo lường thái độ trái ngược với thang đo của Bogardus.
Năm 1932, Likert đã xây dựng thang đo thái độ, có thể yêu cầu khách thể nghiên cứu dựa trên chính thái độ của họ để nghiên cứu. Thang đo này đã khắc 9 phục được điểm yếu của thang đo Thurston, đó là tiết kiệm thời gian xây dựng thang đo nhưng vẫn đảm bảo được độ hiệu lực và độ tin cậy của thang đo [108]. Hiện nay, thang đo Likert vẫn được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu tâm lý học và xã hội học. lại đưa ra các thông số (hay còn gọi là chiều đo) của thái độ với các cấp độ khác nhau như tính tình thái, cường độ, tính cảm xúc,…[dẫn theo 58].
Nhìn chung, những nghiên cứu về thái độ từ cuối những năm 1950 đến nay tập trung ở các tác giả của các nước Phương Tây. Các tác giả chủ yếu tập trung vào nghiên cứu định nghĩa thái độ, cấu trúc và chức năng của nó. Tuy nhiên các nhà khoa học đã có những bước tiến mới hơn và tiến bộ hơn khi nghiên cứu chúng. Nhiều học thuyết mới được hình thành trong thời kỳ này nhằm phục vụ cho việc lý giải các mối quan hệ như học thuyết "tự thể hiện mình (Parye Beny)", học thuyết bất đồng nhận thức giữa thái độ và hành vi (Leon Festinger),các phương pháp nghiên cứu sự hình thành và thay đổi như thang đo thái độ (The F scale- thang đo F).
Nghiên cứu ở Việt Nam Ở nước ta, nhiều nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu về vấn đề thái độ. Hầu hết các quan điểm của các nhà tâm lý học Việt Nam đều xuất phát trên quan điểm tâm lý học hoạt động. Có thể kể đến một số nhà tâm lý học có tên tuổi tại Việt Nam như như Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thuỷ…. Đồng thời, thời gian gần đây, một số các tác giả khác cũng đã thực hiện đề tài luận án tiến sĩ, công trình nghiên cứu khoa học về thái độ theo các khía cạnh khác nhau.
Dưới đây xin tổng quan một số công trình nghiên cứu về thái độ theo 3 hướng nghiên cứu chính sau đây: * Hướng nghiên cứu về các mặt biểu hiện nhận thức- cảm xúc- hành vi của thái độ Thái độ nói chung và thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK nói riêng được cấu trúc bởi các thành phần khác nhau. Nghiên cứu hướng này có tác giả Phạm Minh Hạc và Phạm Thành Nghị (2007) nghiên cứu “Thái độ của người dân đối với nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” đã tìm hiểu sự ủng hộ, quan tâm của người dân đối với nền kinh tế thị trường. Nghiên cứu đã dùng phương pháp điều tra WVS chỉ ra được sự tương quan về giới, vị trí xã hội, lứa tuổi, trình độ, thu nhập và vùng miền đối với thái độ ủng hộ như dân cư ở phía Bắc có thái độ tích cực hơn đối với nền kinh tế ở phía Nam [41]. Nghiên cứu về thái độ học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên đại học, Nguyễn Văn Long (2015) đã đề cập đến cấu trúc 3 mặt: Nhận thức, xúc cảm và hành vi.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, thái độ học tập các môn lý luận chính trị của 10 sinh viên đại học hiện nay được biểu hiện qua nhận thức, xúc cảm và hành động với mức độ không đồng đều, trong đó biểu hiện ở mặt nhận thức là tích cực nhất và biểu hiện ở mặt hành động là ít tích cực nhất. Đồng thời, nghiên cứu cũng đã chỉ ra thái độ học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên tại thời điểm nghiên cứu là chưa thực sự tích cực và không đồng nhất trên các mặt biểu hiện. Mặt nhận thức trong thái độ học tập của sinh viên biểu hiện ở mức tích cực khá. Mặt xúc cảm thể hiện ở mức độ trung bình.
Mặt hành động thể hiện ở mức tích cực thấp [32]. Cũng tương tự tác giả Nguyễn Văn Long, tác giả Nguyễn Thị Kim Anh (2015) cũng đề cập đến cấu trúc 3 mặt của thái độ: nhận thức xúc cảm và hành vi khi nghiên cứu về thái độ của học sinh trung học phổ thông đối với phương pháp tổ chức giảng dạy môn giáo dục giới tính hiện nay. Luận điểm chính của đề tài cho rằng học sinh có thái độ chưa tích cực đối với phương pháp tổ chức dạy môn giáo dục giới tính hiện nay và có sự khác nhau giữa các em học sinh nam và nữ. Bùi Thị Hồng Minh (2017) khi nghiên cứu về thái độ của cộng đồng đối với TTK đã chỉ ra rằng, thái độ tích cực được biểu hiện rõ rệt hơn ở mặt cảm xúc, mặt hành động có biểu hiện thấp nhất.
Điểm mạnh của nghiên cứu này là đã phân tích ba mặt nhận thức, xúc cảm và hành vi ở hai trạng thái tích cực và tiêu cực. Ví dụ phân tích cảm xúc ở hai trạng thái tích cực và tiêu cực trên các mặt: khả năng tự phục vụ bản thân, khả năng nhận thức và học tập của TTK; khả năng giao tiếp. Tuy nhiên, đề tài mới chỉ nghiên cứu đơn lẻ các trạng thái tích cực và chưa xây dựng thang đo về tính tích cực, tiêu cực cho cả 3 mặt nhận thức - thái độ - hành vi với các mức độ khác nhau [36]. Từ sự phân tích trên, luận án đánh giá, các công trình nghiên cứu về các mặt biểu hiện của thái độ đã có những đóng góp đáng kể về thái độ, cấu trúc thái độ, biểu hiện của thái độ đa dạng trong các lĩnh vực khác.
Tuy nhiên, hầu hết các công trình còn khoảng trống là chưa đề cập đến việc xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng như thế nào đến thái độ nói chung và đồng thời chưa khai thác nghiên cứu thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK. * Hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ Tác giả Nguyễn Thị Thanh Liên (2009) nghiên cứu “Thái độ của cha mẹ đối với con có hội chứng tự kỷ”. Điểm mạnh của đề tài nghiên cứu chỉ ra được yếu tố ảnh hưởng nhất đến thái độ của cha mẹ TTK là sự nhận thức không đúng và thiếu chính xác về bản chất tự kỷ của phần đông khách thể là cha mẹ TTK. Tuy nhiên, đề tài chưa đi sâu thực nghiệm các giải pháp như giải pháp truyền thông đã có sự tác 11 động như thế nào đến thái độ của cha mẹ TTK [30].
Đỗ Thanh Hà (2013) thực hiện luận án “Thái độ kỳ thị của cộng đồng dân cư đối với người nhiễm HIV/AIDS”. Nghiên cứu chỉ ra rằng thực trạng thái độ kỳ thị của những người nhiễm HIV ở Việt Nam trong xã hội rất đáng lưu tâm. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa chỉ ra được các biện pháp nâng cao kỹ năng hòa nhập của người nhiễm HIV và các giải pháp mang tính cộng đồng về phòng chống kỳ thị cụ thể [13, tr 15]. Tác giả Đỗ Thị Nga (2015) đã nghiên cứu về thái độ của học sinh trung học phổ thông đối với hành vi bạo lực học đường.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, về mặt nhận thức học sinh đã có nhận thức tương đối đúng đắn trong đó nhận thức về mặt thể chất được học sinh nhận thức rõ nhất và có thái độ đúng đắn nhất. Về mặt thái độ: học sinh tỏ thái độ cảm xúc tích cực với bạo lực thể chất và kinh tế và về mặt hành động của học sinh đa số thực hiện là thông báo với bạn bè. Một bộ phận nhỏ học sinh kết thành phe phái. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ rõ yếu tố nhận thức của học sinh về bản chất của hành vi bạo lực học đường là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất.
Tuy nhiên, đề tài chưa làm rõ sự tương quan của các yếu tố này ảnh hưởng như thế nào đến thái độ của học sinh trung học phổ thông đối với vấn đề bạo lực học đường [39]. Như vậy, mặc dù các tác giả nghiên cứu thái độ trên các đối tượng khác nhau, cách tiếp cận vấn đề khác nhau nhưng đã đề cập đến các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến thái độ. Tuy nhiên, còn một số công trình chưa làm rõ yếu tố nào ảnh hưởng mạnh nhất đến thái độ của khách thể nghiên cứu. Do đó, trong luận án này sẽ tập trung tìm hiểu nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK và đo lường yếu tố chi phối mạnh nhất đến thái độ này.