Nghiên cứu thái độ của nhân viên công tác xã hội đối với trẻ mắc hội chứng tự kỷ

Tổng hợp kiến thức Tâm lý học: Thái độ nhân viên xã hội với trẻ tự kỷ, tiếp cận khoa học, hỗ trợ học tập và nghiên cứu hiệu quả trong chuyên ngành

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

215
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

0.5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ THÁI ĐỘ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP TRẺ MẮC HỘI CHỨNG TỰ KỶ

1.1. Nghiên cứu về thái độ và thái độ của nhân viên công tác xã hội đối với hoạt động nghề nghiệp

1.2. Hướng nghiên cứu về thái độ đối với một số đối tượng có vấn đề cần trợ giúp trong xã hội và trẻ mắc hội chứng tự kỷ

1.3. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU THÁI ĐỘ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP TRẺ MẮC HỘI CHỨNG TỰ KỶ

2.1. Lý luận về thái độ

2.2. Lý luận về hoạt động trợ giúp trẻ mắc hội chứng tự kỷ của nhân viên công tác xã hội

2.3. Thái độ của nhân viên công tác xã hội đối với hoạt động trợ giúp trẻ mắc hội chứng tự kỷ

2.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của nhân viên công tác xã hội đối với hoạt động trợ giúp trẻ mắc hội chứng tự kỷ

2.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu lý luận

3.2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu thực tiễn

3.3. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN THÁI ĐỘ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP TRẺ MẮC HỘI CHỨNG TỰ KỶ

4.1. Thực trạng thái độ của nhân viên công tác xã hội đối với hoạt động trợ giúp trẻ mắc hội chứng tự kỷ

4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của nhân viên công tác xã hội đối với hoạt động trợ giúp trẻ mắc hội chứng tự kỷ

4.3. Tổng hợp mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến thái độ của nhân viên công tác xã hội đối với hoạt động trợ giúp trẻ mắc hội chứng tự kỷ

4.4. Kết quả thực nghiệm tác động

4.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 4

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về thái độ nhân viên xã hội

Thái độ của nhân viên xã hội đối với trẻ mắc hội chứng tự kỷ là một yếu tố quan trọng trong việc thực hiện các hoạt động can thiệp xã hội. Theo nghiên cứu, thái độ này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả của các chương trình hỗ trợ mà còn tác động đến sự phát triển tâm lý của trẻ. Tâm lý học cho thấy rằng thái độ tích cực từ nhân viên xã hội có thể tạo ra môi trường hỗ trợ tốt hơn cho trẻ tự kỷ, giúp các em hòa nhập và phát triển tốt hơn trong xã hội. Việc hiểu rõ về thái độ của nhân viên xã hội sẽ giúp cải thiện chất lượng dịch vụ và nâng cao hiệu quả can thiệp cho trẻ tự kỷ.

1.1. Khái niệm thái độ

Thái độ được định nghĩa là một khuynh hướng tâm lý của cá nhân đối với một đối tượng nào đó, có thể là tích cực hoặc tiêu cực. Trong bối cảnh công tác xã hội, thái độ của nhân viên xã hội đối với trẻ tự kỷ có thể ảnh hưởng đến cách họ thực hiện nhiệm vụ của mình. Theo Onparate và Lapiere (1984), thái độ là yếu tố định hướng hành động, do đó, thái độ tích cực sẽ thúc đẩy nhân viên xã hội thực hiện các hành động hỗ trợ hiệu quả hơn cho trẻ tự kỷ.

II. Thực trạng thái độ của nhân viên xã hội

Nghiên cứu cho thấy rằng thái độ của nhân viên xã hội đối với trẻ mắc hội chứng tự kỷ hiện nay còn nhiều hạn chế. Mặc dù có nhiều nhân viên xã hội có kiến thức và kỹ năng, nhưng thái độ của họ không luôn tích cực. Một số nhân viên có thể thiếu động lực hoặc không nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc hỗ trợ trẻ tự kỷ. Điều này dẫn đến việc họ không thể thực hiện các hoạt động can thiệp xã hội một cách hiệu quả. Việc đánh giá thái độ của nhân viên xã hội là cần thiết để xác định các yếu tố ảnh hưởng và tìm ra giải pháp cải thiện.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của nhân viên xã hội đối với trẻ tự kỷ, bao gồm chế độ đãi ngộ, môi trường làm việc, và kiến thức chuyên môn. Nghiên cứu cho thấy rằng nhân viên xã hội có chế độ đãi ngộ tốt hơn thường có thái độ tích cực hơn đối với công việc của họ. Ngoài ra, môi trường làm việc hỗ trợ và có sự hợp tác giữa các chuyên gia cũng góp phần nâng cao thái độ tích cực của nhân viên xã hội.

III. Đề xuất giải pháp nâng cao thái độ

Để nâng cao thái độ của nhân viên xã hội đối với trẻ mắc hội chứng tự kỷ, cần có các biện pháp cụ thể. Đầu tiên, cần tổ chức các khóa đào tạo nâng cao kiến thức và kỹ năng cho nhân viên xã hội, giúp họ hiểu rõ hơn về trẻ tự kỷ và các phương pháp can thiệp hiệu quả. Thứ hai, cần cải thiện chế độ đãi ngộ và môi trường làm việc để tạo động lực cho nhân viên. Cuối cùng, việc xây dựng một mạng lưới hỗ trợ giữa các nhân viên xã hội và các chuyên gia khác cũng rất quan trọng để nâng cao hiệu quả công việc.

3.1. Tăng cường đào tạo và hỗ trợ

Đào tạo liên tục cho nhân viên xã hội là cần thiết để họ cập nhật kiến thức mới và cải thiện kỹ năng. Các chương trình đào tạo nên bao gồm các nội dung về tâm lý trẻ em, đặc biệt là trẻ tự kỷ, và các phương pháp can thiệp hiện đại. Hỗ trợ từ các chuyên gia tâm lý cũng sẽ giúp nhân viên xã hội có thêm kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn trong việc làm việc với trẻ tự kỷ.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ THÁI ĐỘ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP TRẺ MẮC HỘI CHỨNG TỰ KỶ 1. Nghiên cứu về thái độ và thái độ của nhân viên công tác xã hội đối với hoạt động nghề nghiệp 1. Hướng nghiên cứu về thái độ 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Đã có nhiều công trình nghiên cứu về thái độ dưới các góc độ khác nhau.

Người đầu tiên nghiên cứu về thái độ là A. Ông chủ yếu nghiên cứu các khái niệm thái độ chủ quan của con người đối với môi trường. Các khái niệm đó được ông tổng kết trong các tác phẩm của mình như: Chương trình nghiên cứu nhân cách trong mối quan hệ với môi trường (1912), Tâm lý học đại cương và thực nghiệm (1912), Bút ký khoa học về tính cách (1916), Phân loại nhân cách (1917,1924). Theo ông, đời sống tâm lý thực của con người được chia làm hai lĩnh vực [dẫn theo 31].

- Thứ nhất là cái tâm lý bên trong: Là cái cơ sở bẩm sinh của nhân cách, bao gồm khí chất, tính cách và một loạt đặc điểm tâm lý khác. - Thứ hai là cái tâm lý bên ngoài: Là hệ thống thái độ của nhân cách với môi trường xung quanh. Như vậy, theo ông thì thái độ là sự biểu hiện ra bên ngoài của cái tâm lý, phản ứng với các tác động của môi trường xung quanh. Ông đặc biệt quan tâm đến thái độ của con người đối với lao động, với nghề nghiệp, với sở hữu người khác và với xã hội Vào năm 1925, Bogardus là một trong những người đầu tiên sử dụng phương pháp đo lường định lượng trong lĩnh vực tâm lý học xã hội.

Ông đã đưa ra thang đo 7 mức độ với những khoảng cách bằng nhau. Ông cho rằng có thể sử dụng thang đo này để xác định thái độ đối với các nhóm chủng tộc hoặc dân tộc. Những cải tiến của kỹ thuật này cho phép đo lường thái độ đối với bất cứ một nhóm nào, không chỉ là các nhóm dân tộc mà còn mở rộng ra nhiều lựa chọn khác [dẫn theo 53]. Năm 1928, Thurstone đề xuất phương pháp đo lường thái độ trái ngược với thang đo của Bogardus.

Năm 1932, Likert đã xây dựng thang đo thái độ, có thể yêu cầu khách thể nghiên cứu dựa trên chính thái độ của họ để nghiên cứu. Thang đo này đã khắc 9 phục được điểm yếu của thang đo Thurston, đó là tiết kiệm thời gian xây dựng thang đo nhưng vẫn đảm bảo được độ hiệu lực và độ tin cậy của thang đo [108]. Hiện nay, thang đo Likert vẫn được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu tâm lý học và xã hội học. lại đưa ra các thông số (hay còn gọi là chiều đo) của thái độ với các cấp độ khác nhau như tính tình thái, cường độ, tính cảm xúc,…[dẫn theo 58].

Nhìn chung, những nghiên cứu về thái độ từ cuối những năm 1950 đến nay tập trung ở các tác giả của các nước Phương Tây. Các tác giả chủ yếu tập trung vào nghiên cứu định nghĩa thái độ, cấu trúc và chức năng của nó. Tuy nhiên các nhà khoa học đã có những bước tiến mới hơn và tiến bộ hơn khi nghiên cứu chúng. Nhiều học thuyết mới được hình thành trong thời kỳ này nhằm phục vụ cho việc lý giải các mối quan hệ như học thuyết "tự thể hiện mình (Parye Beny)", học thuyết bất đồng nhận thức giữa thái độ và hành vi (Leon Festinger),các phương pháp nghiên cứu sự hình thành và thay đổi như thang đo thái độ (The F scale- thang đo F).

Nghiên cứu ở Việt Nam Ở nước ta, nhiều nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu về vấn đề thái độ. Hầu hết các quan điểm của các nhà tâm lý học Việt Nam đều xuất phát trên quan điểm tâm lý học hoạt động. Có thể kể đến một số nhà tâm lý học có tên tuổi tại Việt Nam như như Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thuỷ…. Đồng thời, thời gian gần đây, một số các tác giả khác cũng đã thực hiện đề tài luận án tiến sĩ, công trình nghiên cứu khoa học về thái độ theo các khía cạnh khác nhau.

Dưới đây xin tổng quan một số công trình nghiên cứu về thái độ theo 3 hướng nghiên cứu chính sau đây: * Hướng nghiên cứu về các mặt biểu hiện nhận thức- cảm xúc- hành vi của thái độ Thái độ nói chung và thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK nói riêng được cấu trúc bởi các thành phần khác nhau. Nghiên cứu hướng này có tác giả Phạm Minh Hạc và Phạm Thành Nghị (2007) nghiên cứu “Thái độ của người dân đối với nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” đã tìm hiểu sự ủng hộ, quan tâm của người dân đối với nền kinh tế thị trường. Nghiên cứu đã dùng phương pháp điều tra WVS chỉ ra được sự tương quan về giới, vị trí xã hội, lứa tuổi, trình độ, thu nhập và vùng miền đối với thái độ ủng hộ như dân cư ở phía Bắc có thái độ tích cực hơn đối với nền kinh tế ở phía Nam [41]. Nghiên cứu về thái độ học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên đại học, Nguyễn Văn Long (2015) đã đề cập đến cấu trúc 3 mặt: Nhận thức, xúc cảm và hành vi.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, thái độ học tập các môn lý luận chính trị của 10 sinh viên đại học hiện nay được biểu hiện qua nhận thức, xúc cảm và hành động với mức độ không đồng đều, trong đó biểu hiện ở mặt nhận thức là tích cực nhất và biểu hiện ở mặt hành động là ít tích cực nhất. Đồng thời, nghiên cứu cũng đã chỉ ra thái độ học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên tại thời điểm nghiên cứu là chưa thực sự tích cực và không đồng nhất trên các mặt biểu hiện. Mặt nhận thức trong thái độ học tập của sinh viên biểu hiện ở mức tích cực khá. Mặt xúc cảm thể hiện ở mức độ trung bình.

Mặt hành động thể hiện ở mức tích cực thấp [32]. Cũng tương tự tác giả Nguyễn Văn Long, tác giả Nguyễn Thị Kim Anh (2015) cũng đề cập đến cấu trúc 3 mặt của thái độ: nhận thức xúc cảm và hành vi khi nghiên cứu về thái độ của học sinh trung học phổ thông đối với phương pháp tổ chức giảng dạy môn giáo dục giới tính hiện nay. Luận điểm chính của đề tài cho rằng học sinh có thái độ chưa tích cực đối với phương pháp tổ chức dạy môn giáo dục giới tính hiện nay và có sự khác nhau giữa các em học sinh nam và nữ. Bùi Thị Hồng Minh (2017) khi nghiên cứu về thái độ của cộng đồng đối với TTK đã chỉ ra rằng, thái độ tích cực được biểu hiện rõ rệt hơn ở mặt cảm xúc, mặt hành động có biểu hiện thấp nhất.

Điểm mạnh của nghiên cứu này là đã phân tích ba mặt nhận thức, xúc cảm và hành vi ở hai trạng thái tích cực và tiêu cực. Ví dụ phân tích cảm xúc ở hai trạng thái tích cực và tiêu cực trên các mặt: khả năng tự phục vụ bản thân, khả năng nhận thức và học tập của TTK; khả năng giao tiếp. Tuy nhiên, đề tài mới chỉ nghiên cứu đơn lẻ các trạng thái tích cực và chưa xây dựng thang đo về tính tích cực, tiêu cực cho cả 3 mặt nhận thức - thái độ - hành vi với các mức độ khác nhau [36]. Từ sự phân tích trên, luận án đánh giá, các công trình nghiên cứu về các mặt biểu hiện của thái độ đã có những đóng góp đáng kể về thái độ, cấu trúc thái độ, biểu hiện của thái độ đa dạng trong các lĩnh vực khác.

Tuy nhiên, hầu hết các công trình còn khoảng trống là chưa đề cập đến việc xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng như thế nào đến thái độ nói chung và đồng thời chưa khai thác nghiên cứu thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK. * Hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ Tác giả Nguyễn Thị Thanh Liên (2009) nghiên cứu “Thái độ của cha mẹ đối với con có hội chứng tự kỷ”. Điểm mạnh của đề tài nghiên cứu chỉ ra được yếu tố ảnh hưởng nhất đến thái độ của cha mẹ TTK là sự nhận thức không đúng và thiếu chính xác về bản chất tự kỷ của phần đông khách thể là cha mẹ TTK. Tuy nhiên, đề tài chưa đi sâu thực nghiệm các giải pháp như giải pháp truyền thông đã có sự tác 11 động như thế nào đến thái độ của cha mẹ TTK [30].

Đỗ Thanh Hà (2013) thực hiện luận án “Thái độ kỳ thị của cộng đồng dân cư đối với người nhiễm HIV/AIDS”. Nghiên cứu chỉ ra rằng thực trạng thái độ kỳ thị của những người nhiễm HIV ở Việt Nam trong xã hội rất đáng lưu tâm. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa chỉ ra được các biện pháp nâng cao kỹ năng hòa nhập của người nhiễm HIV và các giải pháp mang tính cộng đồng về phòng chống kỳ thị cụ thể [13, tr 15]. Tác giả Đỗ Thị Nga (2015) đã nghiên cứu về thái độ của học sinh trung học phổ thông đối với hành vi bạo lực học đường.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, về mặt nhận thức học sinh đã có nhận thức tương đối đúng đắn trong đó nhận thức về mặt thể chất được học sinh nhận thức rõ nhất và có thái độ đúng đắn nhất. Về mặt thái độ: học sinh tỏ thái độ cảm xúc tích cực với bạo lực thể chất và kinh tế và về mặt hành động của học sinh đa số thực hiện là thông báo với bạn bè. Một bộ phận nhỏ học sinh kết thành phe phái. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ rõ yếu tố nhận thức của học sinh về bản chất của hành vi bạo lực học đường là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất.

Tuy nhiên, đề tài chưa làm rõ sự tương quan của các yếu tố này ảnh hưởng như thế nào đến thái độ của học sinh trung học phổ thông đối với vấn đề bạo lực học đường [39]. Như vậy, mặc dù các tác giả nghiên cứu thái độ trên các đối tượng khác nhau, cách tiếp cận vấn đề khác nhau nhưng đã đề cập đến các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến thái độ. Tuy nhiên, còn một số công trình chưa làm rõ yếu tố nào ảnh hưởng mạnh nhất đến thái độ của khách thể nghiên cứu. Do đó, trong luận án này sẽ tập trung tìm hiểu nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK và đo lường yếu tố chi phối mạnh nhất đến thái độ này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Tâm lý học: Thái độ nhân viên xã hội với trẻ tự kỷ" khám phá những khía cạnh tâm lý quan trọng trong cách mà nhân viên xã hội tương tác và hỗ trợ trẻ tự kỷ. Tác giả nhấn mạnh rằng thái độ tích cực và sự hiểu biết sâu sắc về tình trạng của trẻ tự kỷ không chỉ giúp cải thiện mối quan hệ giữa nhân viên xã hội và trẻ mà còn nâng cao hiệu quả can thiệp. Bài viết cung cấp cho độc giả cái nhìn sâu sắc về tầm quan trọng của sự đồng cảm và kỹ năng giao tiếp trong công việc xã hội, từ đó giúp họ phát triển những phương pháp hỗ trợ tốt hơn cho trẻ tự kỷ.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức của mình về tâm lý học và các vấn đề liên quan, hãy tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ tâm lý học thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của thanh niên xung phong thành phố Hồ Chí Minh. Bài viết này sẽ cung cấp cho bạn những góc nhìn mới mẻ về cách mà tâm lý học có thể được áp dụng trong các lĩnh vực khác nhau, từ đó làm phong phú thêm kiến thức của bạn về tâm lý học và sự tương tác xã hội.