Đ Ạ I H Ọ C Q U Ố C G I A H À N Ộ I VŨ THỊ NH O Tâm Lý Học Phát Triển IT TT-TV * BHQGHN 155 V U -N 1999 V -G 2 'N h à x u ấ t b ả n đ ạ i h ọ c q u ó c g ia h à nội TS V Ũ THỈ N H O TÂM LÝ HỌC PHÁT TRIỂN ■ NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI -1999 MỞ ĐẨU M ọi sự vậi c u a tự n h iê n , xã hội c ù n g với c o n người lu ô n luôn vận cỉộ n c, b iê n đ ổ i. Đ ời sống tâm lý m ộ t con n g ư ờ i, m ột nhóm hay m ột cộng đổng người cũng lu ô n lu ô n vận động, b iến đ ổ i, n g h ia là lu ô n luôn phát triển . T ám lý học không th ể không n g h iên cứ u q u á trìn h đó của tám lý c o n neười trên c ả h ìn h d iện ca tliể c ũ n g như các nhóm lứ a tuổi từ lú c này sin h , h ìn h th àn h , phái t r i ể n v à t à n l ụ i . IX ) n h ữ n g đòi hỏi của th ự c tiễn g iáo d ụ c trỏ e m , v iệc n g h iên cứu sự phát triển tâm lý của con người ra đời khá sớm và cho đến nay nó đã lích lũ y được những th àn h tự u về lý lu ận và th ự c liễn khá phong phú. N hừ đó Tâm Ịỷ học phớt triển ( T L H P T ) c ó ý n n h ĩa rất lớ n tro n g quá trìn h d ạ y học, g iáo d ụ c th ế hệ trẻ nói riên g c ũ n g n h ư đ ố i v ớ i c o n n g ư ờ i n ó i c h u n g . D ự a trên những th àn h tự u c ơ b ả n của T L H P T m à th ế g ió i đ ã thu đ ư ợ c, g iá o trìn h "Tâm lý học phát triển' n à y t ổ n g h ự p , h ệ th ô n g , khái quát những vấn đổ vổ sự vận động, b iến đ ổ i, phát triển tâ m lý c ủ a c o n n g ư ờ i t h e o c á c g ia i đ o ạ n lứ a tu ổ i k h á c n h a u . T rên cơ sở đ ó tìm ra những đặc đ iểm , những động lự c, những qui lu ật, n h ữ n g c o n đư ờ ng h ìn h th àn h và phái triển đặc thù của sự phát triển tâm lý con n g ư ờ i. T ừ đ ó cung cấp cho người học 3 • n h ữ n g tri t h ứ c k h o a học cơ bản về T L H P T , nhằm h iểu biết tâ m lý c o n người và vận d ụ n g sự h iể u b iết đ ó v à o m ọ i h o ạ t đ ộ n g của cuộc sống cá nhân cũng như cộng đ ồng th eo p h ư ư n g c h â m "h iổ u m ìn h , b iết n g ư ờ i". N h ờ đ ó c o n n g ư ờ i b iết s ố n g c ó tìn h , c ó lý, cổ vãn hóa và hạnh phúc. G iáo trìn h này đư ợ c xây dự ng n h ằm đ áp ứng yêu cầu của cải cách g iáo d ụ c ở bậc đại học, trá n h lặp lại n h ữ n g vấn đồ đã được đề cập đến ở n h iểu cuốn sách khác, c ố gắn g gợi m ở ch o sin h v iên hướng suy nghĩ về vấn đề được dặt ra; đ ồ n g th ờ i cung cấp khối lư ợ n g k iến th ứ c tố i th iể u cần th iết ch o sin h v iên về T L H P T . T âm lý con người rất đa dạng và phức tạp. V ì vậy, g iáo trìn h này khó có th ể trán h được nhữ ng sai sót nhất đ ịn h . T ác g iả m o n g nhận được ý k iến đ óng góp quý b áu của đ ộc g iả xa g ầ n đ ể g iá o trìn h này ngày càng hoàn th iện hơn. VŨ THỊ NHO 4 CHƯƠNG I NHŨNG VẤN ĐỂ CHƯNG CỦA TÂM LÝ HỌC PHÁT TRI EN I. ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM v ụ CỦA TÂM LÝ HỌC PHÁT TRIỂN I. K h a i n ié m p h á t trié n ta m l\ N ói đến phát triển , n h iều khi người ta chỉ quan tâm đến n h iữ n g kết q u ả cuối cù n g cùa m ột g iai đo ạn hoặc m ột quá liìin h n ào đ ó th ể h iện ư h ìn h th ứ c bổ ngoài hoặc hành vi cá n h iân . X em xét sự phát triển như vậy là th iếu b iện chứ ng và p h iiến d iện , dỗ dẫn đ ến sai lầm . T rên th ự c tế, sự p h át triển tâm lý của m ỗi cá n h ân h o ặc ÌVHỘI n h ó m n g ư ờ i n à o đ ó hao g iò cũ n g d iễn ra tro n g m ộ t q u iá trìn h : từ sự p h át sin h , h ìn h th àn h , phát triển đ ến tàn lụ ii; từ m ứ c đ ộ n ày đ ến m ứ c đ ộ khác; từ h ìn h th ái này đến hì In h th ái khác. Đ ó là q u á trìn h vận độ n g , b iến đổi của m ột ill l ự c th ể. N ó b ao h à m hàn g loạt th ay đổi có sự ràng buộc bên trco n g vứi n h au , có lú c từ từ , tiệ m tiến , c ó lú c nhảy v ọ t, n h ư n g c ũ in g có lú c d ẫ m ch ân tại ch ỗ , th ậm c h í Ihụt lù i tạm th ờ i. Đ ó là m ột q u á trìn h phứ c tạp như phép duy vật b iện chứ ng đã k h iắn g đ ịn h .L ê n in viết: “ Phát triển là sự g iảm đi và tăn g lên , là sự lặp đ i, lập lại, là sự th ố n g nhất g iữ a các m ậl đối lập ” (cái th ố n g n h ất, g ồm có 2 m ặt: m ặt đối lập lo ại trừ lẫn nhau và m ặt quan hệ g iữ a c h ú n g với nhau). T u y n h iên tín h chất chung củ a sự phát triển là m ột u u á trìn h có ch iề ụ h ư ớ n g tích cực, đi lên n h ằm tạo ra cái m ới ở m ứ c đ ộ ngày càng cao hem , p h ứ c tạp hơn, phong phú và tin h tế hơ n so với cái cũ. Q u á trìn h p h á t triển tâm lý c ủ a c o n n g ư ờ i di từ c á i c h ư a bị phân hóa đến cái bi phân hóa. T ừ ch ỗ ph ận h óa rồi lai tíc h h ợ p lại th à n h các yếu tố , c á c bộ phận để tạọ th àn h m ột cơ c ấ u m ới với những p h ẩm ch ấ t, đ ặ c đ iểm m ớ i. N hững phẩm chất và đặc đ iểm này qui đ ị n h b ộ m ặ i tâm lý .c ủ a từ n g g iai đ o ạ n , từ n g đ ộ tu ổ i tro n g q u á trìn h p h át triển . T âm lý c ủ a m ỗi cá th ể, m ỗ i n h ó m tu ổ i đ ư ợ c phát triển n h ư là m ột hô th ố n g p h ứ c tạp n h ất củ a n h ữ n g cơ c ấ u k h á c n h au (nhận th ứ c, tìn h c ả m ,.trạ n g th ái, hàn h vi v .) c ó liê n q u a n f tác đ ộ n g phụ th u ộ c lẫn nhau. N h ữ n g cơ cấu đó được sắp x ếp th eo m ộ t th ứ bậc đ é đ ả m .b à p chọ họạt đ ộ n g bẻn tro n g và bôn ngoài của con n g ư ờ i. ỊV í d ụ : J ú c m ới sin h , đứa trẻ hoạt đ ộ n g là d o những nhu cầu sơ d ẳn g nhất của cơ th ể đòi h ỏ i. N h ữ n g ', nhu cầu đ ó được ngưòi lớ n th ỏ a m ãn nên không bao lâu saui nhữ ng nhu cầu th ứ cấp được h ìn h th àn h . T iếp đến là những tìn h cảm , hứng th ú , động cơ m ới xuất h iện . N hữ ng nhu câu ,, đ ộ n g cơ m ới này m ột m ặt th ú c đ ẩy hoạt động của đứa trẻ, m ặt khác ngày càng được phát triển tro n g nhân cách củ a nổ. N g h ĩa là đứa trẻ được phát triển th eo ch ín h những cơ ch ế phức tạp , đ a n xcn, hòa quyện vào nhau m ột cách b iện chứng.
Giáo Trình Tâm Lý Học Phát Triển Phần 1 - Vũ Thị Nho - ĐHQGHN
Giáo trình Tâm lý học phát triển phần 1 của Vũ Thị Nho. Tìm hiểu các giai đoạn phát triển tâm lý, từ trẻ thơ đến tuổi trưởng thành. Tài liệu hữu ích cho sinh viên.
Trường đại học
Đại học quốc gia hà nộiChuyên ngành
Tâm lý họcNgười đăng
Ẩn danhThể loại
Giáo trình1999
Phí lưu trữ
30 PointMục lục chi tiết
Tóm tắt
I. Tổng Quan Giáo Trình Tâm Lý Học Phát Triển Nghiên Cứu 55
Mọi sự vật trong tự nhiên và xã hội, bao gồm cả con người, đều liên tục vận động và biến đổi. Đời sống tâm lý của mỗi cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng cũng vậy, luôn trong quá trình phát triển. Tâm lý học không thể bỏ qua việc nghiên cứu quá trình này, trên cả phương diện cá thể và nhóm lứa tuổi, từ khi sinh ra, hình thành, phát triển đến khi tàn lụi. Thực tiễn giáo dục trẻ em đặt ra yêu cầu nghiên cứu sự phát triển tâm lý con người, và đến nay, lĩnh vực này đã tích lũy được những thành tựu lý luận và thực tiễn phong phú. Do đó, Tâm Lý Học Phát Triển có ý nghĩa lớn trong quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ nói riêng và đối với con người nói chung. Dựa trên những thành tựu cơ bản của Tâm Lý Học Phát Triển, giáo trình này tổng hợp, hệ thống, khái quát những vấn đề về sự vận động, biến đổi, phát triển tâm lý của con người theo các giai đoạn lứa tuổi khác nhau. Từ đó, tìm ra những đặc điểm, động lực, qui luật, những con đường hình thành và phát triển đặc thù của sự phát triển tâm lý con người. Mục tiêu là cung cấp cho người học những tri thức khoa học cơ bản về Tâm Lý Học Phát Triển, nhằm hiểu biết tâm lý con người và vận dụng sự hiểu biết đó vào mọi hoạt động của cuộc sống cá nhân cũng như cộng đồng theo phương châm "hiểu mình, biết người". Nhờ đó, con người biết sống có tình, có lý, có văn hóa và hạnh phúc. Giáo trình này được xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu của cải cách giáo dục ở bậc đại học, tránh lặp lại những vấn đề đã được đề cập đến ở nhiều cuốn sách khác, cố gắng gợi mở cho sinh viên hướng suy nghĩ về vấn đề được đặt ra; đồng thời cung cấp khối lượng kiến thức tối thiểu cần thiết cho sinh viên về Tâm Lý Học Phát Triển. Tâm lý con người rất đa dạng và phức tạp. Vì vậy, giáo trình này khó có thể tránh được những sai sót nhất định. Tác giả mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của độc giả xa gần để giáo trình này ngày càng hoàn thiện hơn.
1.1. Khái Niệm Phát Triển Tâm Lý Quá Trình Biến Đổi Không Ngừng
Nói đến phát triển, nhiều khi người ta chỉ quan tâm đến những kết quả cuối cùng của một giai đoạn hoặc một quá trình nào đó thể hiện ở hình thức bề ngoài hoặc hành vi cá nhân. Xem xét sự phát triển như vậy là thiếu biện chứng và phiến diện, dễ dẫn đến sai lầm. Trên thực tế, sự phát triển tâm lý của mỗi cá nhân hoặc một nhóm người nào đó bao giờ cũng diễn ra trong một quá trình: từ sự phát sinh, hình thành, phát triển đến tàn lụi; từ mức độ này đến mức độ khác; từ hình thái này đến hình thái khác. Đó là quá trình vận động, biến đổi của một thực thể. Nó bao hàm hàng loạt thay đổi có sự ràng buộc bên trong với nhau, có lúc từ từ, tiệm tiến, có lúc nhảy vọt, nhưng cũng có lúc dẫm chân tại chỗ, thậm chí thụt lùi tạm thời. Đó là một quá trình phức tạp như phép duy vật biện chứng đã khẳng định. Lênin viết: “Phát triển là sự giảm đi và tăng lên, là sự lặp đi, lặp lại, là sự thống nhất giữa các mặt đối lập” (cái thống nhất, gồm có 2 mặt: mặt đối lập loại trừ lẫn nhau và mặt quan hệ giữa chúng với nhau). Tuy nhiên tính chất chung của sự phát triển là một quá trình có chiều hướng tích cực, đi lên nhằm tạo ra cái mới ở mức độ ngày càng cao hơn, phức tạp hơn, phong phú và tinh tế hơn so với cái cũ.
1.2. Phân Biệt Phát Triển Với Tăng Trưởng Chín Muồi Mối Quan Hệ
Khi nói đến khái niệm phát triển, người ta thường hay đề cập đến các khái niệm có sự liên quan như tăng trưởng, chín muồi. Tăng trưởng là khái niệm đề cập đến sự gia tăng về số lượng (chiều dài, dung tích, khối lượng...) của sự vật, hiện tượng. Ví dụ: sự gia tăng về chiều cao, cân nặng, sự tăng lên của tế bào thần kinh, sự tăng lên về số lượng tế bào cảm giác của trẻ em trong năm thứ nhất v. Còn chín muồi được dùng khi sự tăng trưởng đạt đến “độ”. Ví dụ: “Trăng đến rằm trăng tròn”. Ông cha ta thường nói: “Nữ thập tam, nam thập lục” để chỉ sự chín muồi về mặt sinh học (sự dậy thì) của con người. Nói đến phát triển là nói đến sự thay đổi chuyển hóa về mặt chất lượng, nói đến một trình độ mới khác về chất so với cái cũ. Chẳng hạn sự phát triển tâm lý của con người, đi từ cảm giác đến tri giác, từ tri giác đến tư duy v. Tri giác là một trình độ khác về chất so với cảm giác; tư duy là trình độ mới khác về chất so với tri giác v. Quan hệ giữa tăng trưởng, chín muồi với phát triển là quan hệ giữa số lượng và chất lượng. Tăng trưởng, chín muồi dẫn đến sự tăng trưởng về chất (phát triển); chất lượng mới lại tạo tiền đề cho sự tăng trưởng và chín muồi ở mức cao hơn. Đó là mối quan hệ biện chứng có tính nhân quả của sự vật, hiện tượng. Sự phát triển tâm lý của con người được vận động cũng không ngoài quy luật đó.
II. Đối Tượng Nhiệm Vụ Của Giáo Trình Tâm Lý 58
Tâm lý học phát triển là một trong những chuyên ngành cơ bản, quan trọng của tâm lý học. Đối tượng nghiên cứu của nó là những động lực, điều kiện, những qui luật phát triển, những sự biến đổi của các quá trình, các thuộc tính, các phẩm chất tâm lý trong sự hình thành nhân cách con người với tư cách là một thành viên của xã hội, theo sự trưởng thành của lứa tuổi. Tâm lý học phát triển bao gồm các ngành sau:
- Tâm lý học trong thời kỳ bào thai (còn gọi là thai giáo).
- Tâm lý học tuổi thơ (tuổi hài nhi).
- Tâm lý học trước tuổi đi học (tuổi vườn trẻ).
- Tâm lý học tuổi thiếu niên.
- Tâm lý học người trưởng thành.
- Tâm lý học người già.
- Tâm lý học của những em phát triển không bình thường. Tàm lý học phát triển có mối liên quan với nhiều chuyên ngành tâm lý học khác như Tâm lý học đại cương, Tâm - sinh lý học, Tâm lý học nhân cách. Trong đó mối liên quan giữa Tâm lý học phát triển và Tâm lý học sư phạm (bao gồm cả dạy học và giáo dục) là chặt chẽ nhất. Giữa hai ngành tâm lý học này có sự tác động qua lại và qui định lẫn nhau một cách rất biện chứng: Tâm lý học phát triển và Tâm lý học sư phạm giống hai đứa con sinh đôi khác trứng của một bào thai. Mối quan hệ giữa hai ngành tâm lý học này đều có chung khách thể nghiên cứu, đó là trẻ em các lứa tuổi. Bởi thế cả hai ngành tâm lý này tạo thành một thể thống nhất khó tách bạch, dẫn đến tình trạng nhiều khi ranh giới trình bày các vấn đề của Tâm lý học phát triển và Tâm lý học sư phạm trở nên có tính tương đối. Tuy nhiên Tâm lý học phát triển chủ yếu nghiên cứu động lực, qui luật cũng như các đặc điểm phát triển của con người theo sự trưởng thành của từng giai đoạn. Còn Tăm lý học sư phạm nghiên cứu những con đường, những qui luật hình thành của nhận thức, nghiên cứu những vấn đề thuộc về dạy học và giáo dục con người. Theo nghĩa đầy đủ, nghiên cứu sự phát triển tâm lý không phải là nghiên cứu những cái gì đã có sẵn mà là nghiên cứu tâm lý trong quá trình vận động, biến đổi không ngừng của nó.
2.1. Đối Tượng Nghiên Cứu Động Lực Qui Luật Phát Triển Tâm Lý
Đối tượng nghiên cứu của nó là những động lực, điều kiện, những qui luật phát triển, những sự biến đổi của các quá trình, các thuộc tính, các phẩm chất tâm lý trong sự hình thành nhân cách con người với tư cách là một thành viên của xã hội, theo sự trưởng thành của lứa tuổi. Tâm lý học phát triển bao gồm các ngành: Tâm lý học trong thời kỳ bào thai, Tâm lý học tuổi thơ, Tâm lý học trước tuổi đi học, Tâm lý học tuổi thiếu niên, Tâm lý học người trưởng thành, Tâm lý học người già, Tâm lý học của những em phát triển không bình thường. Tâm lý học phát triển có mối liên quan với nhiều chuyên ngành tâm lý học khác. Mối liên quan giữa Tâm lý học phát triển và Tâm lý học sư phạm là chặt chẽ nhất.
2.2. Nhiệm Vụ Của Tâm Lý Học Phát Triển Nghiên Cứu Đặc Điểm
Nhiệm vụ của Tâm Lý Học Phát Triển là nghiên cứu những đặc điểm phát triển của các quá trình tâm lý, những thuộc tính, những phẩm chất nhân cách, những khả năng, điều kiện phát triển theo lứa tuổi cũng như qui luật, những con đường hình thành, phát triển của chúng. Mục đích của việc nghiên cứu đó nhằm phục vụ cho thực tiễn giáo dục trẻ em nói riêng, giáo dục con người nói chung, nhằm phát triển những nhân cách ngày càng hoàn thiện để sống và phát triển hài hòa trong xã hội hiện đại; đồng thời làm phong phú thêm kho tàng lý luận của khoa học giáo dục nói chung, khoa học TLHPT nói riêng.
2.3. Phương Pháp Nghiên Cứu Quan Sát Thực Nghiệm Lịch Sử...
Để nghiên cứu sự phát triển tâm lý của con người, cần phối hợp nhiều phương pháp khác nhau, nhằm hỗ trợ, bổ sung cho nhau vì mỗi phương pháp đều có những điểm mạnh, điểm yếu nhất định. Các phương pháp nghiên cứu TLHPT cũng không nằm ngoài những phương pháp nghiên cứu tâm lý học nói chung mà chúng ta đã biết. Có thể kể những phương pháp chủ yếu sau đây: Phương pháp quan sát, Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động, Phương pháp trắc nghiệm, Phương pháp thực nghiệm, Phương pháp nghiên cứu lịch sử, Phương pháp nghiên cứu trẻ em sinh đôi cùng trứng hoặc khác trứng v.v. Điều phải lưu ý trong khi sử dụng các phương pháp để nghiên cứu sự phát triển tâm lý con người là ở chỗ, mà nghiên cứu phải đặt đối tượng, khách thể nghiên cứu của mình trong quá trình vận động và phát triển của nó.
III. Động Lực Phát Triển Tâm Lý Các Thuyết Nguồn Gốc 59
Vấn đề nhân tố và động lực của sự phát triển tâm lý luôn luôn là vấn đề trung tâm của bất cứ ngành TLH nào, đặc biệt là với TLHPT. Trong lịch sử TLH, đây là vấn đề thường xuyên được đề cập, bàn luận và có nhiều luận điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Tổng hợp, khái quát lại có thể nêu lên các trường phái điển hình sau đây về nguồn gốc, động lực phát triển tâm lý cá nhân. (Quan điểm của thuyết nguồn gốc sinh vật về phát triển: Những người theo trường phái nguồn gốc sinh vật coi những đặc điểm bẩm sinh di truyền có sẵn của trẻ em là nguồn gốc, là động lực của sự phát triển tâm lý cá thể. Họ cho rằng di truyền là yếu tố có tác dụng quyết định đến phát triển tâm lý trẻ, coi môi trường là yếu tố điều chỉnh, biểu hiện của tính di truyền. Xuất phát điểm của những người theo dòng phái nguồn gốc sinh vật về phát triển bắt nguồn từ qui luật tiến hóa nổi tiếng do Heackcl đưa ra vào nửa đầu thế kỷ XIX. Qui luật này cho rằng: Sự phát triển cá thể là sự lặp lại sự phát triển của loài dưới dạng rút gọn, tương tự như bào thai người ở thời kỳ sống trong bụng mẹ, lặp lại tất cả những giai đoạn phát triển từ một thực thể đơn bào tới con người- Theo quan điểm này, trong quá trình phát triển, trẻ con cũng tái tạo lại tất cả những giai đoạn cơ bản của lịch sử loài người.
3.1. Thuyết Nguồn Gốc Sinh Vật Di Truyền Quyết Định Phát Triển
Những người theo trường phái này coi những đặc điểm bẩm sinh di truyền có sẵn của trẻ em là nguồn gốc, là động lực của sự phát triển tâm lý cá thể. Họ cho rằng di truyền là yếu tố có tác dụng quyết định đến phát triển tâm lý trẻ, coi môi trường là yếu tố điều chỉnh, biểu hiện của tính di truyền. Theo thuyết nguồn gốc sinh vật, sự phát triển của trẻ em là do những tố chất di truyền đã được ghi lại sẵn trong phôi của bào thai ngay từ đầu. Phát triển chẳng qua là sự bộc lộ dần dần những thuộc tính ấy. Tất cả do di truyền quyết định. Tính tích cực cá nhân, giáo dục, giáo dưỡng v. chỉ làm tăng lên hay giảm đi những yếu tố tiền định trước đó mà thôi. Đó chính là cơ sở lý luận của "giáo dục tự phát", "giáo dục tự do".
3.2. Thuyết Nguồn Gốc Xã Hội Môi Trường Định Hình Nhân Cách
Những người theo thuyết này cho rằng môi trường xã hội là nhân tố quyết định sự phát triển của trẻ em. Môi trường xung quanh như thế nào thì hành vi, nhân cách của con người sẽ như thế ấy. Bởi thế muốn nghiên cứu trẻ em thì chỉ cần phân tích cấu trúc môi trường xã hội xung quanh là hiểu được. Thuyết này còn có tên là thuyết duy cảm, coi trẻ em lúc sinh ra như tờ giấy trắng (tabula rasa), rồi ảnh hưởng của hoàn cảnh điều kiện môi trường, xã hội mà những phẩm chất, thuộc tính được vẽ lên đó. Thuyết nguồn gốc xã hội coi trẻ em chỉ là một tồn tại hoàn toàn thụ động, chịu sự tác động và chi phối của môi trường xung quanh và không thể thoát khỏi cái vòng kiềm tỏa đó.
3.3. Thuyết Hội Tụ Hai Yếu Tố Di Truyền Và Môi Trường Tương Tác
Theo thuyết này, mối tác động qua lại giữa môi trường và di truyền quyết định sự phát triển tâm lý trẻ em. Tuy nhiên trong hai yếu tố đó, di truyền giữ vai trò chủ yếu còn môi trường là điều kiện để biến những yếu tố có sẵn của di truyền thành hiện thực. Thuyết này nhằm loại bỏ sự phiến diện của thuyết nguồn gốc sinh vật và thuyết nguồn gốc xã hội do nhà tâm lý học người Đức V.Sternơ nêu lên. Tưởng rằng khi kết hợp (hội tụ) 2 yếu tố phiến diện: di truyền và môi trường thì có thể giải quyết được vấn đề động lực phát triển trẻ em. Song những kết quả nghiên cứu về trẻ em sinh đôi cùng trứng và sinh đôi khác trứng được tiến hành vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã bác bỏ thuyết trên.
IV. Lý Luận Phát Triển Tâm Lý Theo Vygotsky Hiện Đại 60
Xuất phát từ những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là phép biện chứng tự nhiên trong quá trình biến đổi từ vượn thành người nhờ lao động, Vưgôtxki đã đi sâu nghiên cứu vai trò của công cụ lao động trong quá trình sản xuất và nêu lên tư tưởng: hoạt động có công cụ đã dẫn đến sự biến đổi hành vi của con người, khiến cho con người khác động vật. Sự khác biệt này thể hiện rõ nhất, tập trung nhất bởi tính gián tiếp của hoạt động; trong hoạt động con người biết dùng các ký hiệu (từ ngữ, chữ số. Công cụ hướng ra bên ngoài, tác động vào đối tượng, nhằm biến đổi nó phục vụ cho những nhu cầu sống của con người. Ký hiệu, dấu hiệu ngược lại hướng vào bên trong, tác động tới hành vi của con người, có giá trị định hướng, điều chỉnh những hoạt động của con người. Sự phát triển của con người diễn ra chính trong quá trình nắm vững các công cụ đó và các loại ký hiệu đó. Trải qua các giai đoạn phát triển từ thấp đến cao, các công cụ lao động và cùng với nó là các loại ký hiệu được loài người ghi lại trong toàn bộ hệ thống kinh nghiệm mang tính xã hội - lịch sử. Để phát triển, đứa trẻ phải lĩnh hội được những kinh nghiệm mang tính người đó bằng hoạt động và giao tiếp.
4.1. Vai Trò Giáo Dục Truyền Đạt Kinh Nghiệm Xã Hội Lịch Sử
Việc truyền thụ những kinh nghiệm đó trong xã hội loài người được thực hiện bằng con đường đặc trưng là giáo dục (theo nghĩa rộng). Chính vì vậy, Vưgôtxki coi giáo dục chiếm vị trí trung tâm, hàng đầu trong toàn bộ hệ thống tổ chức cuộc sống của trẻ em, có tác dụng quyết định sự phát triển tâm lý của trẻ em. Những luận điểm trên đây của Vưgôtxki được hình thành từ những năm 20-30 của thế kỷ này. Nó được tâm lý học Liên Xô thừa nhận trên bình diện lý luận và được triển khai nghiên cứu trong thực tiễn bằng nhiều con đường: quan sát tổng kết kinh nghiệm, thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, thực nghiệm tự nhiên và đặc biệt là thực nghiệm tâm lý - giáo dục.
4.2. Hoạt Động Tích Cực Của Chủ Thể Động Lực Phát Triển Tâm Lý
Quan điểm hoạt động tích cực của chủ thể để lĩnh hội kinh nghiệm xã hội loài người đã tích lũy được là nguồn gốc thúc đẩy sự phát triển tâm lý của trẻ em còn được phát hiện và thừa nhận bởi nhiều nhà tâm lý học ở các nước Âu, Mỹ (A. Tâm lý học ngày nay coi giáo dục (giáo dục và dạy học) là yếu tố có tính chủ đạo đối với sự phát triển của trẻ em, bởi vì chính giáo dục của người lớn xác lập ra các mối quan hệ giữa trẻ em với hiện thực xung quanh, xác lập nên tính tích cực hoạt động của trẻ em. Hoạt động tích cực của trẻ em nhằm chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội - lịch sử mà loài người tích lũy được thông qua quan hệ với người lớn, là động lực thúc đẩy sự phát triển tâm lý, ý thức, thúc đẩy sự hình thành nhân cách ở trẻ em.
V. Điều Kiện Phát Triển Tâm Lý Bẩm Sinh Môi Trường Hoạt Động 59
Trong quá trình sống, con người và động vật luôn luôn phát triển. Song cơ chế chủ yếu của sự phát triển tâm lý của động vật là sự di truyền những kinh nghiệm của loài bằng con đường bản năng sinh vật, bằng con đường thích nghi cá thể với môi trường bên ngoài. Còn ở con người, đặc điểm của những chức năng tâm lý được phát triển trong quá trình trẻ em nắm vững kinh nghiệm lịch sử - xã hội (hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, quy trình công nghệ, lối sống, quan hệ v.) bằng chính hoạt động của chủ thể. Khi ra đời, đứa trẻ được sống trong thế giới của xã hội loài người với những đặc trưng xã hội - lịch sử của con người, giữa thế giới đối tượng và các quan hệ do con người tạo ra. Sự trưởng thành của đứa trẻ chính là quá trình nó lĩnh hội dần dần những đối tượng và những quan hệ mang tính người đó. Quá trình này được thực hiện dưới sự hướng dẫn, truyền thụ thường xuyên của người lớn, bằng những hình thức khác nhau, trong đó dạy học chiếm vị trí hàng đầu.
5.1. Bẩm Sinh Di Truyền Tiền Đề Tự Nhiên Của Sự Phát Triển
Yếu tố bẩm sinh, di truyền cùng những đặc điểm về thể chất, đặc điểm của các loại hình thần kinh cấp cao là tiền đề, là điều kiện tự nhiên của sự phát triển. Nó có tác dụng hoặc tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây những khó khăn nhất định cho việc hình thành một loại hoạt động nào đó. Ví dụ: nếu chủ thể có sẵn thính giác nhanh, nhạy, sẽ giúp cho việc hình thành năng lực âm nhạc tốt hơn, người có kiểu loại thần kinh Mêlăngcôlê thường hay gặp khó khăn trong giao tiếp nhã nhặn với người khác để giải quyết vấn đề. Thiếu những điều kiện sinh học, tự nhiên như não bộ, hệ thần kinh, những phản xạ bản năng ban đầu của cơ thể thì tâm lý , ý thức không thể hình thành và phát triển được.
5.2. Môi Trường Xã Hội Nơi Con Người Sống Và Biểu Hiện
Con người bao giờ cũng sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của môi trường xã hội. Môi trường là nơi con người sống và biểu hiện tính tích cực hoạt động của mình. Bởi vậy môi trường là một trong những điều kiện quan trọng của sự phát triển tâm lý , ý thức của trẻ em. Môi trường mà đứa trẻ sống có ảnh hưởng tiêu cực và tích cực đến sự phát triển của đứa trẻ tùy thuộc vào chỗ trong môi trường đó nó có quan hệ tích cực với những yếu tố nào. Môi trường xã hội theo nghĩa chung chung không thể quyết định sự phát triển tâm lý trẻ em như phần trên đã khẳng định.
5.3. Hoạt Động Của Chủ Thể Ý Nghĩa Quyết Định Chất Lượng
Khi đã có những tiền đề vật chất nhất định, được sống trong xã hội loài người, yếu tố và điều kiện thứ ba không thể thiếu đối với sự phát triển tâm lý là tính tích cực hoạt động của chính chủ thể. Hoạt động của chủ thể có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng của sự phát triển tâm lý . Đời sống tâm lý của mỗi cá nhân nghèo nàn hay phong phú, đa dạng hay đơn điệu, sâu sắc hay hời hợt v. chủ yếu do tính tích cực hoạt động và giao lưu của chủ thể trong xã hội quyết định.
VI. Giáo Dục Phát Triển Tâm Lý Mối Quan Hệ Tác Động 59
Như phần trên đã nói, giáo dục có ý nghĩa chủ đạo đối với sự phát triển tâm lý , nhân cách trẻ em. Phần này sẽ tập trung nói về mối tác động, ảnh hưởng qua lại giữa giáo dục và phát triển . Giáo dục bao hàm giáo dục (theo nghĩa hẹp) và dạy học, là một quá trình người lớn tìm mọi cách thức, phương thức hữu hiệu nhất tác động đến trẻ em nhằm tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội - lịch sử mà loài người tích lũy được ghi lại trong hệ thống tri thức, kỹ năng, công cụ, ký hiệu, quy trình công nghệ, quy tắc của lối sống, hành vi v. (nghĩa là trong hệ thống các đối tượng và quan hệ xã hội), giúp trẻ em có đủ năng lực, phẩm chất để sống, hoạt động và phát triển không ngừng trong một xã hội nhất định.
6.1. Giáo Dục Mục Tiêu Phương Hướng Phát Triển Nhân Cách
Giáo dục hiểu đầy đủ bao hàm một ý nghĩa toàn diện trong sự phát triển nhân cách trẻ em. Nó không chỉ nhằm phát triển những quá trình; thuộc tính tâm lý mà còn hướng vào việc phát triển đứa trẻ cả về thể chất, hình hài; nó không chỉ chú ý đến việc giáo dục, bồi dưỡng các năng lực, năng khiếu mà còn phải bồi dưỡng những phẩm chất, lối sống cần thiết mà xã hội đòi hỏi. Nó không chỉ yêu cầu đứa trẻ phát triển ở mức hình quân chủ nghĩa mà là phát triển ở mức cao hơn. Giáo dục hiện đại không chấp nhận sự nhồi nhét tri thức sẵn có cho trẻ em bằng roi vọt, cưỡng chế, bằng nuông chiều, dỗ dãi hoặc bằng phương thức thầy truyền thụ, trò ghi nhớ thụ động mà bằng cách tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn để trẻ tích cực hoạt động, tự giác chiếm lĩnh hệ thống kinh nghiệm xã hội - lịch sử mà loài người tích lũy được.
6.2. Giáo Dục Định Hướng Trước Cho Sự Phát Triển Lứa Tuổi
Giáo dục hiểu theo nghĩa trên không có nghĩa là chạy theo sự phát triển, mà trong một chừng mực nào đó, giáo dục cần định hướng trước một bước cho sự phát triển lứa tuổi của trẻ em. Giáo dục cần tuân thủ theo những quy luật phát triển lứa tuổi của trẻ em, nhưng đồng thời hướng dẫn, chuẩn bị trước cho bước phát triển sau của trẻ em. Nghĩa là giáo dục quan tâm đến "vùng phát triển gần nhất" mà Vưgôtxki đã nêu ra. Ví dụ: cuối tuổi mẫu giáo, trong chương trình giáo dục trò chơi cho trẻ em, nhà giáo dục đã phải dần dần hướng trẻ vào các trò chơi có ý nghĩa học tập để chuẩn bị cho hoạt động học tập, ở tuổi đầu thanh niên ngoài việc học tập, nhà giáo dục đã dần dần định hướng để các em bắt đầu suy nghĩ việc chọn nghề, vào đời v.
TÀI LIỆU LIÊN QUAN
Bạn đang xem trước tài liệu:
Giáo trình tâm lý học phát triển phần 1 vũ thị nho
THÔNG TIN CHI TIẾT
Tác giả: Vũ Thị Nho
Trường học: Đại học quốc gia hà nội
Chuyên ngành: Tâm lý học
Đề tài: Những vấn đề chung của tâm lý học phát triển
Loại tài liệu: Giáo trình
Năm xuất bản: 1999
Địa điểm: Hà Nội
Trích đoạn nội dung tài liệu
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ