Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Hoàng Thị Thanh Hằng với đề tài "Năng lực cạnh tranh của các công ty cho thuê tài chính tại Thành phố Hồ Chí Minh" được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Thị Mận tại Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh (bảo vệ năm 2013, chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng). Công trình tập trung phân tích, đánh giá thực trạng và xây dựng hệ thống giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho hệ thống các công ty cho thuê tài chính (CTTC) đang hoạt động trên địa bàn kinh tế trọng điểm Thành phố Hồ Chí Minh.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa tài chính đặt ra yêu cầu nâng cấp năng lực cạnh tranh ở mọi cấp độ: quốc gia, ngành và doanh nghiệp. Trong cấu trúc thị trường tài chính, công ty CTTC được xác định là định chế tài chính phi ngân hàng không nhận tiền gửi cá nhân, đóng vai trò cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn dưới hình thức máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất và động sản cho nền kinh tế, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) – nhóm đối tượng thường gặp trở ngại khi tiếp cận tín dụng ngân hàng thương mại (NHTM) truyền thống.
Tính đến tháng 12 năm 2012, toàn hệ thống Việt Nam có 12 công ty CTTC được cấp phép hoạt động. Tuy nhiên, giai đoạn 2008–2012 chứng kiến nhiều khó khăn nội tại của ngành: quy mô vốn điều lệ và năng lực tài chính còn mỏng, phương thức quản trị điều hành còn hạn chế, danh mục sản phẩm đơn điệu, năng lực marketing và mạng lưới phân phối chưa đáp ứng yêu cầu. Trước sức ép cạnh tranh trực tiếp từ các NHTM và sự gia nhập của các tập đoàn cho thuê tài chính nước ngoài, việc nghiên cứu có hệ thống về năng lực cạnh tranh của các công ty CTTC là khoảng trống cấp thiết cần được giải quyết.
Mục tiêu nghiên cứu
- Vận dụng lý thuyết cạnh tranh để nhận diện, xác định và xây dựng hệ thống tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh của các công ty CTTC theo đặc thù ngành.
- Đánh giá tổng hợp điểm mạnh, điểm yếu trong năng lực cạnh tranh nội tại của các công ty CTTC có trụ sở chính tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2008–2012.
- Phân tích mức độ tác động của các yếu tố môi trường vĩ mô và môi trường ngành đến năng lực cạnh tranh của các công ty này.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và các khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty CTTC trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án được thiết kế nhằm trả lời trực tiếp ba câu hỏi trọng tâm:
- Năng lực cạnh tranh của các công ty CTTC có trụ sở chính trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh là mạnh hay yếu?
- Năng lực cạnh tranh của các công ty CTTC có trụ sở chính trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh mạnh hay yếu ở những nhân tố cụ thể nào trong cấu trúc hoạt động?
- Mức độ và chiều hướng ảnh hưởng của các yếu tố môi trường bên ngoài đến năng lực cạnh tranh của các công ty CTTC có trụ sở chính trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra như thế nào?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của các công ty CTTC có trụ sở chính đặt trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi không gian: Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, nơi tập trung các công ty CTTC lớn bao gồm công ty trực thuộc NHTM Nhà nước, NHTM cổ phần, công ty liên doanh và công ty 100% vốn nước ngoài.
- Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát sơ cấp trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án điểm lại các công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến lĩnh vực cho thuê tài chính tại Việt Nam:
- Hồ Diệu (1995), Vận dụng tín dụng thuê mua trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam, Luận án Phó tiến sĩ kinh tế, TP.HCM: Công trình tập trung làm rõ bản chất kinh tế của phương thức tín dụng thuê mua (tiền thân của cho thuê tài chính) và chứng minh tính tất yếu khách quan của việc áp dụng công cụ này vào hệ thống tài chính Việt Nam thời kỳ đầu đổi mới.
- Đoàn Thanh Hà (2003), Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động CTTC ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, TP.HCM: Công trình khái quát lịch sử hình thành và phát triển của ngành CTTC thế giới và Việt Nam, chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến thành công cũng như thất bại trong giai đoạn đầu, từ đó gợi mở giải pháp thúc đẩy phát triển thị trường.
- Lê Thị Hồng (2008), Phát triển hoạt động CTTC tại công ty CTTC II Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế, TP.HCM: Nghiên cứu tập trung vào phân tích thực trạng nghiệp vụ tại một đơn vị riêng lẻ (BLC II/ALC II), phản ánh bức tranh vi mô nhưng thiếu tính bao quát toàn ngành.
- Nguyễn Thị Diệu Hòa (2008), Phát triển hoạt động CTTC tại TP.HCM trong giai đoạn hội nhập, Luận văn thạc sĩ, TP.HCM: Đề cập đến định hướng phát triển nghiệp vụ CTTC tại Thành phố Hồ Chí Minh nhưng chủ yếu tiếp cận dưới góc độ phát triển dịch vụ đơn thuần.
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào khía cạnh nghiệp vụ kỹ thuật hoặc phân tích hoạt động của từng đơn vị cụ thể, chưa tiếp cận vấn đề theo khung lý thuyết năng lực cạnh tranh một cách toàn diện. Luận án của tác giả Hoàng Thị Thanh Hằng định vị là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên khảo sát đồng bộ 10 nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh nội tại kết hợp đánh giá 3 nhóm yếu tố môi trường bên ngoài, sử dụng thang đo định lượng và phương pháp ma trận hình ảnh cạnh tranh cho các công ty CTTC tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết về năng lực cạnh tranh
Luận án tổng hợp tiến trình phát triển của các lý thuyết cạnh tranh từ cổ điển đến hiện đại:
- Lý thuyết thương mại cổ điển: Adam Smith với Lý thuyết lợi thế tuyệt đối (xác định năng lực cạnh tranh dựa trên hao phí lao động thấp hơn) và David Ricardo với Lý thuyết lợi thế so sánh (cơ sở phân công lao động và chuyên môn hóa quốc tế dựa trên tỷ lệ chi phí cơ hội).
- Lý thuyết của Michael Porter: Khung phân tích Mô hình 5 áp lực cạnh tranh (đối thủ hiện hữu, đối thủ tiềm năng, sản phẩm thay thế, quyền lực nhà cung ứng, quyền lực khách hàng); Mô hình kim cương (yếu tố đầu vào, điều kiện cầu, các ngành công nghiệp hỗ trợ/liên quan, chiến lược/cấu trúc và đối thủ cạnh tranh); cùng ba chiến lược cạnh tranh tổng quát: Chi phí thấp nhất, Khác biệt hóa sản phẩm/dịch vụ, và Tập trung vào phân khúc hẹp.
- Các quan điểm phản biện và bổ sung:
- Scott Hoenig: Cho rằng giá cả không phải là yếu tố duy nhất; hành vi tiêu dùng chịu ảnh hưởng lớn từ uy tín thương hiệu và quảng bá; tăng doanh thu có ý nghĩa sống còn hơn việc chỉ cắt giảm chi phí.
- Gary Hamel: Năng lực cạnh tranh hiện đại là khả năng đón đầu tương lai và nắm bắt cơ hội mới thay vì chỉ dựa vào phân tích tĩnh các công cụ quá khứ.
- John Naisbitt: Xu hướng liên minh chiến lược toàn cầu thay đổi cấu trúc cạnh tranh đối đầu thuần túy.
- Paul Krugman: Phân định ranh giới giữa "lợi thế so sánh" và "năng lực cạnh tranh", cảnh báo nguy cơ của việc ám ảnh cạnh tranh dẫn đến can thiệp bảo hộ sai lệch nguồn lực vĩ mô.
- Các trường phái quản trị: Trường phái quản trị chiến lược (Fred David, Arthur A. Thompson); trường phái năng lực hoạt động; trường phái dựa trên tài sản; trường phái tiếp cận theo quá trình (Momaya); và định nghĩa của OECD (đồng nhất năng lực cạnh tranh với năng suất và hiệu quả sử dụng yếu tố sản xuất bền vững).
Khung phân tích năng lực cạnh tranh của công ty CTTC
Kế thừa mô hình của Thompson – Strickland, luận án xây dựng mô hình phân tích năng lực cạnh tranh gồm 10 nhân tố nội tại và 3 nhóm yếu tố môi trường bên ngoài:
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp tiếp cận định tính và định lượng:
- Phương pháp chuyên gia: Thu thập ý kiến từ các nhà quản trị, chuyên gia trong ngành CTTC và ngân hàng nhằm xác lập trọng số của 10 nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh và đánh giá tác động của môi trường thể chế.
- Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi: Thiết kế thang đo đo lường mức độ quan trọng và mức độ thực hiện của từng yếu tố cạnh tranh tại các công ty CTTC trên địa bàn TP.HCM.
- Phương pháp thống kê mô tả và xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm SPSS để kiểm định dữ liệu, tính toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và phân tích tần số đánh giá.
- Phương pháp ma trận hình ảnh cạnh tranh: Tổng hợp điểm số trọng số để xếp hạng vị thế cạnh tranh của các nhóm công ty CTTC.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của công ty cho thuê tài chính
Chương 1 thiết lập nền tảng pháp lý và lý luận về nghiệp vụ CTTC:
- Bản chất pháp lý: Theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 và Nghị định 95/2008/NĐ-CP, công ty CTTC là một loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, có tư cách pháp nhân Việt Nam, hoạt động dưới ba hình thức tổ chức: công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, và công ty cổ phần. Bên cạnh đó có các hình thức công ty CTTC liên doanh và công ty CTTC 100% vốn nước ngoài (với điều kiện tổ chức tín dụng nước ngoài phải có tổng tài sản trên 10 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn).
- Đặc trưng sản phẩm dịch vụ tài chính: Dịch vụ CTTC mang đầy đủ các đặc tính phi vật thể: tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời giữa cung ứng và tiêu dùng, tính không thể lưu kho, tính không thể hoàn trả, và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ tâm lý cũng như quan hệ giao tiếp cá nhân.
- Danh mục nghiệp vụ chính của công ty CTTC:
- Huy động vốn: Tiếp nhận tiền gửi có kỳ hạn từ 1 năm trở lên của tổ chức, cá nhân; phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá kỳ hạn trên 1 năm; vay vốn các tổ chức tín dụng, tài chính trong và ngoài nước.
- Cho thuê tài chính: Nghiệp vụ cấp tín dụng trung và dài hạn đối với tài sản thuê gồm phương tiện vận chuyển, máy móc thiết bị thi công, dây chuyền sản xuất (DCSX), thiết bị gắn liền với bất động sản và các động sản khác.
- Mua và cho thuê lại (Sale and Leaseback): Mua tài sản thuộc sở hữu của bên thuê và cho thuê lại chính tài sản đó để bên thuê duy trì hoạt động sản xuất.
- Các nghiệp vụ phụ trợ: Bán các khoản phải thu từ hợp đồng CTTC; cho thuê vận hành; cho vay ngắn hạn bổ sung vốn lưu động đối với bên thuê; tư vấn tài chính, ủy thác, quản lý tài sản và bảo lãnh liên quan đến hoạt động CTTC; kinh doanh ngoại hối theo quy định.
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của các công ty cho thuê tài chính tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 2 phản ánh chi tiết thực trạng mạng lưới, quy mô và chất lượng cạnh tranh của các công ty CTTC tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2008–2012:
| Nhóm công ty CTTC tại Việt Nam | Các đơn vị tiêu biểu có trụ sở / chi nhánh tại TP.HCM |
|---|---|
| Trực thuộc NHTM Nhà nước | ALC I, ALC II (Agribank), ILC (VietinBank), VLC (Vietcombank), BLC (BIDV) |
| Trực thuộc NHTM Cổ phần | ACB Leasing (ALC - Á Châu), Sacombank Leasing (SLC) |
| Liên doanh / Nước ngoài | Chailease International Leasing, VILC (Vietnam International Leasing), Kexim Vietnam Leasing, ANZ/V-Trac Leasing |
| Trực thuộc Tập đoàn kinh tế | Vinashin Finance Leasing |
Đánh giá theo 10 nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh
- Năng lực tài chính: Quy mô vốn điều lệ và vốn hoạt động của phần lớn các công ty CTTC nội địa còn rất khiêm tốn so với các NHTM. Tỷ lệ an toàn vốn và chất lượng tài sản chịu áp lực nặng nề bởi nợ xấu phát sinh từ giai đoạn suy thoái kinh tế 2008–2011.
- Năng lực quản trị điều hành: Cơ cấu tổ chức tại nhiều công ty còn cồng kềnh, phân định trách nhiệm quản trị rủi ro chưa theo chuẩn mực hiện đại; việc hoạch định chiến lược kinh doanh trung và dài hạn còn phụ thuộc vào ngân hàng mẹ.
- Năng lực nguồn nhân lực: Thiếu hụt đội ngũ chuyên viên có trình độ kép (am hiểu cả tài chính - tín dụng lẫn đặc tính kỹ thuật máy móc thiết bị); tỷ lệ biến động nhân sự cao; chính sách đãi ngộ chưa đủ sức cạnh tranh với NHTM.
- Năng lực phát triển sản phẩm: Danh mục tài sản cho thuê tập trung chủ yếu vào phương tiện vận tải đường bộ và máy móc công trình phổ thông; các sản phẩm trọn gói, cho thuê dây chuyền công nghệ cao và cấu trúc tài trợ phức tạp chưa phát triển mạnh.
- Năng lực marketing: Hoạt động tiếp thị thụ động, chủ yếu khai thác tệp khách hàng do ngân hàng mẹ giới thiệu; hình ảnh thương hiệu CTTC trong cộng đồng doanh nghiệp còn mờ nhạt.
- Chất lượng dịch vụ: Thời gian thẩm định, xét duyệt hồ sơ và quy trình giải ngân tài sản còn kéo dài do thủ tục kiểm tra pháp lý tài sản phức tạp.
- Năng lực cạnh tranh về phí / lãi suất: Chi phí đầu vào của công ty CTTC cao hơn NHTM do không được huy động tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi ngắn hạn dưới 1 năm, dẫn đến lãi suất cho thuê kém linh hoạt.
- Năng lực uy tín, thương hiệu: Các công ty trực thuộc NHTM lớn hoặc tập đoàn tài chính quốc tế có ưu thế uy tín rõ rệt so với các công ty độc lập.
- Năng lực công nghệ: Hệ thống công nghệ thông tin quản lý hợp đồng, theo dõi dòng tiền và định vị tài sản phân tán chưa được đầu tư đồng bộ.
- Năng lực phát triển mạng lưới: Số lượng chi nhánh và phòng giao dịch còn mỏng, chủ yếu tập trung tại khu vực trung tâm TP.HCM, hạn chế khả năng tiếp cận các khu công nghiệp ngoại thành.
Đánh giá tác động của môi trường bên ngoài
- Môi trường thị trường: Nhu cầu đổi mới máy móc thiết bị của khối DNNVV tại TP.HCM rất lớn nhưng khả năng đáp ứng điều kiện pháp lý và tài chính của doanh nghiệp còn hạn chế.
- Môi trường pháp luật và chính sách: Khung pháp lý về quyền sở hữu tài sản cho thuê, thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm và cơ chế thu hồi tài sản khi khách hàng vi phạm hợp đồng còn nhiều vướng mắc, làm tăng rủi ro pháp lý cho bên cho thuê.
- Môi trường hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ: Thị trường mua bán máy móc thiết bị thứ cấp chưa phát triển; thiếu các tổ chức định giá độc lập chuyên nghiệp cho máy móc chuyên dùng.
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty cho thuê tài chính tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 xây dựng hệ thống giải pháp toàn diện dựa trên dự báo tiềm năng phát triển của kinh tế TP.HCM:
1. Hoàn thiện tổ chức và phương thức quản trị điều hành
- Xây dựng mô hình quản trị rủi ro độc lập, phân định rõ ràng giữa bộ phận kinh doanh và bộ phận thẩm định tín dụng/quản lý tài sản.
- Thiết lập hệ thống cảnh báo sớm rủi ro dòng tiền và rủi ro mất giá tài sản thuê.
2. Tăng cường năng lực tài chính và đa dạng hóa kênh huy động vốn
- Tăng vốn điều lệ nhằm nâng cao hệ số an toàn vốn và giới hạn cấp tín dụng cho một khách hàng.
- Đẩy mạnh phát hành trái phiếu dài hạn, chứng chỉ tiền gửi cho các tổ chức tài chính và bảo hiểm; tìm kiếm nguồn vốn tài trợ ủy thác quốc tế.
3. Phát triển sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ
- Mở rộng nghiệp vụ Mua và cho thuê lại nhằm hỗ trợ tái cấu trúc nguồn vốn lưu động cho doanh nghiệp sản xuất.
- Đa dạng hóa danh mục tài sản cho thuê: hướng vào thiết bị y tế, thiết bị tiết kiệm năng lượng, dây chuyền chế biến xuất khẩu.
- Chuẩn hóa quy trình thẩm định kỹ thuật, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ giao dịch.
4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
- Đào tạo chuyên sâu kỹ năng thẩm định giá trị kỹ thuật và pháp lý của máy móc, thiết bị;
- Xây dựng chính sách lương thưởng theo hiệu quả công việc (KPIs) gắn liền với chất lượng thu hồi nợ.
5. Đẩy mạnh marketing và phát triển thương hiệu
- Xây dựng chiến lược thương hiệu độc lập, định vị rõ vai trò hỗ trợ vốn công nghệ thay vì chỉ là kênh cấp vốn phụ trợ của NHTM.
- Tăng cường tiếp cận trực tiếp tại các hiệp hội ngành nghề và các khu công nghiệp, khu chế xuất tại TP.HCM.
6. Đầu tư hạ tầng công nghệ và mở rộng kênh phân phối
- Triển khai phần mềm quản lý hợp đồng tập trung (Core Leasing); ứng dụng công nghệ giám sát tài sản thuê từ xa (GPS đối với phương tiện vận tải).
- Mở rộng mạng lưới điểm giao dịch vệ tinh tại các cụm công nghiệp trọng điểm.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm rõ khung lý luận về năng lực cạnh tranh đặc thù áp dụng cho định chế tài chính phi ngân hàng (công ty cho thuê tài chính).
- Xây dựng thành công bộ chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh gồm 10 nhân tố nội tại (Thompson – Strickland mở rộng) và 3 nhóm yếu tố ngoại cảnh phù hợp với bối cảnh thị trường tài chính đang phát triển.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh toàn cảnh về hoạt động của hệ thống các công ty CTTC trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn biến động kinh tế 2008–2012.
- Nhận diện và lượng hóa chính xác các điểm nghẽn cạnh tranh của các công ty CTTC: bất lợi về chi phí vốn đầu vào, sự hạn chế trong danh mục tài sản cho thuê, và sự thiếu đồng bộ của hệ thống công nghệ thông tin.
- Đề xuất 6 nhóm giải pháp hành động cụ thể cho các công ty CTTC nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh nội tại.
Khuyến nghị chính sách
- Đối với Chính phủ và các Bộ ngành: Hoàn thiện hành lang pháp lý về xử lý tài sản cho thuê tài chính; quy định rõ ràng thủ tục thu hồi và thanh lý tài sản khi khách hàng phá sản hoặc mất khả năng chi trả; hoàn thiện cơ chế thuế giá trị gia tăng (VAT) đối với tài sản cho thuê.
- Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN): Nới lỏng hợp lý biên độ huy động vốn dài hạn; xây dựng quy chế trích lập dự phòng rủi ro và phân loại nợ phù hợp với đặc thù cho thuê tài sản (có tài sản bảo đảm là chính vật thuê); nâng cao vai trò thanh tra, giám sát an toàn hệ thống.
- Đối với Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam (VILEA): Phát huy vai trò cầu nối thông tin giữa các hội viên; xây dựng cơ sở dữ liệu chung về khách hàng và thị trường thiết bị thứ cấp; tổ chức đào tạo nghiệp vụ chuẩn hóa cho toàn ngành.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi không gian: Nghiên cứu chỉ tập trung vào các công ty có trụ sở chính tại Thành phố Hồ Chí Minh, chưa mở rộng so sánh trực tiếp với các công ty CTTC tại Hà Nội và các trung tâm kinh tế khác trên cả nước.
- Hạn chế về chuỗi dữ liệu thời gian: Dữ liệu nghiên cứu dừng lại ở mốc năm 2012, phản ánh giai đoạn tái cấu trúc sau khủng hoảng tài chính; chưa bao quát các biến động của các quy định pháp luật tài chính ban hành sau năm 2013.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu mô hình quản trị rủi ro tích hợp trong bối cảnh Basel II/III áp dụng cho các định chế phi ngân hàng; nghiên cứu tác động của chuyển đổi số và công nghệ tài chính (Fintech) đến phương thức cung ứng dịch vụ cho thuê tài chính tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
- Đối với các nhà quản trị công ty CTTC: Cung cấp khung tự đánh giá năng lực cạnh tranh (10 nhân tố) và ma trận hình ảnh cạnh tranh để xác định vị thế doanh nghiệp, từ đó hoạch định chiến lược kinh doanh và cấu trúc lại danh mục sản phẩm.
- Đối với cơ quan quản lý (NHNN, Bộ Tài chính): Cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ công tác rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
- Đối với giảng viên và nghiên cứu sinh: Là tài liệu chuyên khảo tham khảo về việc vận dụng lý thuyết quản trị chiến lược và phương pháp nghiên cứu chuyên gia trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao công ty CTTC chịu bất lợi về chi phí vốn so với NHTM?
Theo quy định của Luật các TCTD năm 2010, công ty CTTC là định chế phi ngân hàng, không được phép nhận tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi ngắn hạn dưới 1 năm của cá nhân. Nguồn vốn hoạt động chủ yếu phụ thuộc vào tiền gửi kỳ hạn dài, phát hành trái phiếu và vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác, dẫn đến chi phí huy động vốn bình quân luôn cao hơn chi phí vốn của NHTM.
2. Mô hình phân tích năng lực cạnh tranh của luận án gồm những yếu tố nào?
Luận án sử dụng mô hình gồm 10 nhân tố nội tại: Năng lực tài chính, Quản trị điều hành, Nguồn nhân lực, Phát triển sản phẩm, Marketing, Chất lượng dịch vụ, Lãi suất/phí cho thuê, Uy tín thương hiệu, Trình độ công nghệ, Mạng lưới chi nhánh; cùng 3 nhóm nhân tố môi trường bên ngoài: Thị trường, Luật pháp và chính sách, Kết cấu hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ.
3. Nghiệp vụ "Mua và cho thuê lại" có vai trò gì đối với doanh nghiệp đi thuê?
Nghiệp vụ "Mua và cho thuê lại" (Sale and Leaseback) cho phép doanh nghiệp bán tài sản (máy móc, thiết bị) thuộc sở hữu của mình cho công ty CTTC để thu hồi ngay nguồn vốn tiền mặt phục vụ nhu cầu lưu động, sau đó thuê lại chính tài sản đó để tiếp tục sản xuất kinh doanh mà không làm gián đoạn quy trình vận hành.
4. Luận án đưa ra những nhóm giải pháp chính nào?
Luận án đề xuất 6 nhóm giải pháp trọng tâm: (1) Hoàn thiện tổ chức và quản trị điều hành; (2) Tăng cường năng lực tài chính và huy động vốn; (3) Phát triển sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ; (4) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; (5) Đẩy mạnh marketing và phát triển thương hiệu; (6) Đầu tư công nghệ và mở rộng mạng lưới phân phối.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Thị Thanh Hằng đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của công ty cho thuê tài chính và phản ánh bức tranh thực trạng hoạt động của các công ty CTTC trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2008–2012. Bằng phương pháp nghiên cứu chuyên gia và xử lý thống kê trên phần mềm SPSS, luận án đã xác định rõ các điểm mạnh, điểm yếu nội tại cùng tác động của môi trường thể chế đối với hoạt động của định chế tín dụng phi ngân hàng này. Hệ thống 6 nhóm giải pháp và các kiến nghị chính sách đối với Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và Hiệp hội VILEA là cơ sở tham khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường cho thuê tài chính tại Việt Nam.