Chương 1: Lý luận chung về quan hệ giữa tài chính doanh nghiệp và tín dụng ngân hàng - Chương 2: Thực trạng quan hệ giữa tài chính doanh nghiệp và tín dụng ngân hàng tại Vietinbank – CN1 - Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro, nâng cao chất lượng quan hệ giữa tài chính doanh nghiệp và tín dụng ngân hàng tại Vietinbank – CN1 1 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ GIỮA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/ tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” [1]. Theo luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam số 47/2010/QH12 năm 2010: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” [22].
Như vậy, “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” [22]. Nguyên tắc cấp tín dụng Vốn vay phải được người đi vay hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi. Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn. Đây là yếu tốt hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng do bản chất của ngân hàng là kinh doanh chênh lệch lãi suất.
Nguồn vốn ngân hàng sử dụng để cấp tín dụng chủ yếu hình thành từ các khoản tiền huy động, vay mượn trong nền kinh tế và trong xã hội, vì vậy hơn bất kỳ một chủ thể cấp tín dụng nào, bảo đảm sự an toàn của nguồn vốn tín dụng và yếu tố sống còn của hoạt động tín dụng ngân hàng. Vốn vay phải được người đi vay sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả và phải đảm bảo bằng giá trị vật tư hàng hóa tương đương. Nguyên tắc này thể hiện việc người đi vay phải sử dụng vốn vay đúng mục đích theo các cam kết và thoả thuận 2 trên hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ,… Nếu sử dụng vốn sai mục đích có thể sẽ dẫn đến việc vốn vay không được hoàn trả đúng kỳ hạn đã được thẩm định trong phương án vay ban đầu, gây rủi ro mất vốn đối với người cho vay. Điều kiện cấp tín dụng Ngân hàng xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau: - Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp. - Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết. Quy trình tín dụng 1. Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng Đây là giai đoạn căn bản đầu tiên của quy trình tín dụng, được thực hiện ngay sau khi cán bộ tín dụng tiếp xúc với khách hàng có nhu cầu vay vốn.
Lập hồ sơ tín dụng là giai đoạn quan trọng để thu thập thông tin làm cơ sở để thực hiện các giai đoạn sau, đặc biệt là giai đoạn phân tích và ra quyết định cho vay. Một bộ hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cần thu thập từ khách hàng những thông tin về năng lực pháp lý và năng lực hành vi của khách hàng, khả năng sử dụng và hoàn trả vốn của khách hàng và bảo đảm tín dụng. Kết quả của giai đoạn này là hoàn thành bộ hồ sơ để chuyển sang bộ phận phân tích. Phân tích tín dụng Phân tích tín dụng là phân tích khả năng hiện tại và tiềm tàng của khách hàng về sử dụng vốn tín dụng, khả năng hoàn trả và khả năng thu hồi vốn vay ngân hàng.
Mục tiêu của phân tích tín dụng là tìm kiếm những tình huống có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, tiên lượng khả năng kiểm soát những loại rủi ro đó và dự kiến các biện pháp phòng ngừa và hạn chế thiệt hại có thể xảy ra. 3 Một trong những nội dung quan trọng nhất của phân tích tín dụng là phân tích khả năng tài chính, năng lực sản xuất kinh doanh của khách hàng vay vốn từ đó nhận định được khả năng trả nợ của khách hàng để ngân hàng làm cơ sở quyết định cho vay. Kết quả của giai đoạn này là báo cáo kết quả thẩm định để chuyển sang bộ phận có thẩm quyền và quyết định cho vay. Quyết định tín dụng Quyết định tín dụng là quyết định cho vay hay từ chối đối với một hồ sơ vay vốn của khách hàng.
Đây là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong quy trình tín dụng vì nó ảnh hưởng rất lớn đến các giai đoạn sau và ảnh hưởng đến uy tín và hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng. Đây là giai đoạn khó xử lý nhất và thường dễ phạm phải sai lầm nhất. Có hai loại sai lầm cơ bản thường xảy ra trong khâu này: - Quyết định chấp thuận cho vay đối với một khách hàng không tốt. - Từ chối cho vay đối với một khách hàng tốt.
Cả hai loại sai lầm này điều dẫn đến thiệt hại đáng kể cho ngân hàng. Loại sai lầm thứ nhất dễ dẫn đến thiệt hại do nợ quá hạn hoặc nợ không thể thu hồi, tức là thiệt hại về tài chính. Loại sai lầm thứ hai dễ dẫn đến thiệt hại về uy tín và mất cơ hội cho vay. Nhằm hạn chế sai lầm, trong khâu quyết định tín dụng các ngân hàng thường chú trọng hai vấn đề: một là thu thập và xử lý thông tin một cách đầy đủ và chính xác để làm cơ sở ra quyết định, hai là trao quyền quyết định cho một hội đồng tín dụng hoặc những người có năng lực phân tích và phán quyết.
Kết quả của giai đoạn này là quyết định cho vay hay từ chối cho vay. Trường hợp quyết định cho vay sẽ tiến hành các thủ tục pháp lý như ký hợp đồng tín dụng và các hợp đồng khác. Giải ngân Giải ngân là khâu tiếp theo sau khi hợp đồng tín dụng đã được kí kết. Giải ngân là phát tiền vay cho khách hàng trên cơ sở mức tín dụng đã cam kết trong hợp đồng.
Tuy là giai đoạn tiếp theo sau của quyết định tín dụng, nhưng giải ngân cũng là giai đoạn quan trọng vì nó có thể góp phần phát hiện và chấn chỉnh kịp thời nếu có 4 sai sót ở các khâu trước. Ngoài ra, cách thức giải ngân còn góp phần kiểm tra và kiểm soát xem vốn tín dụng có được sử dụng đúng mục đích cam kết hay không. Nguyên tắc giải ngân là luôn luôn gắn liền vận động tiền tệ với vận động hàng hóa hoặc dịch vụ đối ứng nhằm đảm bảo khả năng thu hồi nợ sau này. Nguyên tắc này rất quan trọng trong việc đảm bảo cơ cấu tài chính cho doanh nghiệp.
Nguồn vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích nếu không ngân hàng sẽ khó khăn trong việc thu hồi vốn vay. Kết quả của giai đoạn này là chuyển tiền trả cho đơn vị cung cấp hoặc chuyển tiền vào tài khoản tiền gửi của khách hàng. Giám sát và thanh lý tín dụng Giai đoạn giám sát tín dụng sẽ được tiếp nối với mục tiêu theo dõi, đánh giá mức độ chấp hàng hợp đồng tín dụng của khách hàng và kịp thời có ứng xử thích hợp. Nội dung của giai đoạn này chủ yếu gồm: - Giám sát tín dụng: là kiểm tra việc thực hiện các điều khoản đã cam kết theo hợp đồng tín dụng.
Ngân hàng giám sát khách hàng thông qua theo dõi trả lãi định kỳ; viếng thăm và kiểm soát địa điểm hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc nơi cư ngụ của khách hàng đứng tên vay vốn; giám sát hoạt động khách hàng thông qua mối quan hệ với khách hàng khác; kiểm tra các hình thức bảo đảm tiền vay,…. Một trong những biện pháp giám sát tình hình tài chính doanh nghiệp là phân tích các báo cáo tài chính của khách hàng theo định kỳ, theo dõi dòng tiền của doanh nghiệp thông qua việc giám sát hoạt động tài khoản của khách hàng tại ngân hàng. - Thu nợ: Khách hàng có trách nhiệm và nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng đúng hạn và đầy đủ như trong cam kết theo hợp đồng. - Tái xét tín dụng và phân hạng tín dụng: tiến hành phân tích tín dụng trong điều kiện khoản tín dụng đã được cấp.
Mục tiêu là đánh giá chất lượng tín dụng nhằm phát hiện các rủi ro để có hướng xử lý kịp thời. - Xử lý nợ quá hạn, nợ có vấn đề. 5 - Thanh lý hợp đồng tín dụng: xảy ra do khách hàng vi phạm hợp đồng hoặc do khoản vay đã đến hạn. Đây là khâu kết thúc của quy trình tín dụng.
Kết quả của giai đoạn này là báo cáo kết quả giám sát và đưa ra các giải pháp xử lý; lập thủ tục để thanh lý tín dụng. TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp là hoạt động liên quan đến việc huy động hình thành nên nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn đó để tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản của doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu đề ra. Cụ thể: - Về hình thức: Tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp.
- Về nội dung: Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị gắn liền với việc tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ phát sinh trong các hoạt động của doanh nghiệp. Trong kinh tế thị trường, tiền đề cho các hoạt động của doanh nghiệp là cần một lượng vốn tiền tệ nhất định. Bằng cách thức nhất định, doanh nghiệp tạo lập được số vốn hay quỹ tiền tệ ban đầu. Quá trình hoạt động của doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ.