CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Luận án Trung Đông là khu vực quan trọng có vị trí chiến lược và nhiều tiềm năng phát triển. Trong bối cảnh Việt Nam đã và đang tích cực đẩy mạnh quan hệ kinh tế thương mại với các nước, tình hình nghiên cứu về quan hệ thương mại của Việt Nam với các nước và khu vực trên thế giới thời gian qua có nhiều dấu ấn khá đậm nét. Các học giả đã đi sâu vào tìm hiểu nhiều vấn đề quan trọng liên quan đến quan hệ kinh tế - thương mại của Việt Nam với các nước trên thế giới.
Trên thế giới, vấn đề Trung Đông trở thành chủ đề được rất nhiều tổ chức, cơ quan nghiên cứu quốc tế, các tờ báo lớn quan tâm. Các tổ chức, cơ quan nghiên cứu quốc tế có quan tâm tới Trung Đông có thể kể ra bao gồm World Bank, IMF, Washington Institute for Near East Policy (Mỹ), the Middle East Institute – Colombia University (Mỹ), Istituto Italiano per l’Africa e l’Oriente (Viện NC Châu Phi và Trung Đông của Italia)…vv bên cạnh đó cũng có các tờ báo lớn thường xuyên có bài viết chuyên sâu về các vấn đề của Trung Đông như báo Foreign Affairs, Le Monde, Le Echos, Politique Internationale, The Hindu, Hebdo Al-Ahram (Ai Cập), Tạp chỉ “Tri thức Thế giới” (Trung Quốc). Các vấn đề được nêu trong báo chí hoặc các công trình nghiên cứu rất đa dạng. Nhìn chung có thể sắp xếp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về cơ sở lý luận thương mại quốc tế, những nghiên cứu về Trung Đông và quan hệ Việt Nam – Trung Đông theo các vấn đề nổi bật đáng quan tâm liên quan đến hướng của Luận án bao gồm các vấn đề sau đây: 11 z 1.
Những nghiên cứu về tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Đông Khi nghiên cứu về xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Đông, tác giả Đỗ Đức Định - Nguyễn Thanh Hiền trong cuốn sách về “Châu Phi và Trung Đông năm 2008: Những vấn đề và sự kiện nổi bật”, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội năm 2009 đã sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp để phân tích về hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Đông trong năm 2008 và dự báo cho những năm tiếp theo. Theo phân tích của tác giả, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong năm 2008 tuy bị ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng cuối năm 2008 nhưng vẫn đạt kết quả khích lệ và duy trì đà tăng trưởng so với năm 2007, nhận định những năm tiếp theo xuất khảu của Việt Nam vẫn tiếp tục gia tăng bất chấp cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu [12]. Còn tác giả Lê Quang Thắng và Kiều Thanh Nga đã phân tích hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Đông trong năm 2011 và năm 2012 trong cuốn sách “Một số sự kiện kinh tế - chính trị nổi bật của Châu Phi và Trung Đông năm 2011, 2012”, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội. Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp phân tích so sánh, phương pháp kế thừa để cung cấp thông tin tổng quan về hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông trong năm 2011 và 2012.
Số liệu phân tích từ công trình này cho thấy kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông đã tăng và đạt tốc độ tăng trưởng cao so với năm 2009, 2010 và 2011. Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Trung Đông cũng thay đổi thể hiện là nhóm các mặt hàng điện thoại di động, thiết bị điện tử, máy vi tính đã đạt tỷ trọng cao nhất trong nhóm các mặt hàng xuất khẩu chủ lực sang thị trường Trung Đông [44,33]. Cũng nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Bùi Nhật Quang trong cuốn sách “Một số vấn đề kinh tế, chính trị nổi bật của Trung Đông và xu hướng đến năm 2020”, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội năm 2011. Tác giả đã sử dụng 12 z phương pháp phân tích - tổng hợp để đánh giá và nhận định về các tác động về kinh tế, chính trị tới Việt Nam, những lĩnh vực kinh tế mà Việt Nam và các quốc gia Trung Đông có thể bổ sung cho nhau và có mong muốn hợp tác, nâng tầm trở thành lĩnh vực phát triển ưu tiên trong quan hệ giữa hai phía đến năm 2020.
Một trong những lĩnh vực bổ sung cho nhau quan trọng nhất đó là lĩnh vực thương mại hàng hóa, theo đó tác giả đã phân tích tổng quan hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2008 luôn có sự gia tăng về kim ngạch xuất khẩu, các đối tác xuất nhập khẩu lớn của Việt Nam tại khu vực Trung Đông bao gồm: Arab Saudi, UAE, Israel, quata, Iran.Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Đông trong giai đoạn này tập trung chủ yếu ở nhóm mặt hàng nông sản, may mặc, da giày, thủy sản v.Tốc độ tăng trưởng thương mại Việt Nam – Trung Đông qua các năm tương đối cao, trong một số trường hợp có thể đạt tới 30- 40%/năm, tức là cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng thương mại trung bình. Điều này chứng tỏ, Trung Đông là thị trường tiềm năng của Việt Nam. Tuy nhiên thực trạng hợp tác thương mại nói chung và thực trạng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông vẫn còn rất khiêm tốn [37]. Khi bàn về xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường các quốc gia thuộc Trung Đông, tác giả Bùi Nhật Quang trong cuốn sách“Thổ Nhĩ Kỳ và khả năng hợp tác của Việt Nam đến năm 2020” Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (2013), đã đi vào làm rõ các vấn đề chính sau: (1)Thông tin tổng quan về Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ, (2) Phân tích các vấn đề nổi bật của Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn hiện nay gồm: Cải cách để gia nhập Liên minh châu Âu; Phát triển quan hệ đặc biệt với Hoa Kỳ; Vai trò của Thổ Nhĩ Kỳ trong khu vực Trung Đông, (3) Phân tích, đánh giá các lợi thế quốc tế của Thổ Nhĩ Kỳ, lợi thế của Việt Nam và khả năng đẩy mạnh quan hệ hợp tác Việt Nam - Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn đến năm 2020 với trọng tâm làm rõ: một là, Lợi thế quốc gia của Thổ 13 z Nhĩ Kỳ xem xét qua các khác biệt của mô hình phát triển và triển vọng phát triển dài hạn; hai là, Nhận định về khả năng hợp tác Việt Nam - Thổ Nhĩ Kỳ đến năm 2020.
Quan hệ Việt Nam – Thổ Nhĩ Kỳ được đánh giá là còn nhiều triển vọng do hoạt động hợp tác được xây dựng trên nền tảng là quan hệ chính trị - ngoại giao tốt đẹp, có nhiều điểm tương đồng về đặc điểm phát triển và hai nước đều có chính sách đối ngoại rộng mở. Trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Thổ Nhĩ Kỳ, tác giả đã nhân định Thổ Nhĩ Kỳ là một thị trường lớn và còn nhiều tiềm năng phát triển ở khu vực Trung Đông, có nhu cầu nhập khẩu nhiều hàng hóa thuộc thế mạnh của Việt Nam và là đối tác quan trọng, là một trong những thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam tại khu vực Trung Đông. Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 2008 trở lại đây là các mặt hàng về điện tử và điện thoại di động chiếm tỷ trọng cao nhất, tiếp đó là mặt hàng cao su thiên nhiên, đồ gỗ, giày dép, rau quả, thủy sản vv. Trong năm bài viết của tác giả Lê Quang Thắng được đăng trong tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông về quan hệ hợp tác Việt Nam - Trung Đông như: bài viết “Quan hệ Việt Nam – Arập Xêút” số 07/2007, bài viết “Quan hệ hợp tác Việt Nam – GCC”, số 9/2008, bài viết “ Bài viết quan hệ hợp tác Việt Nam – Trung Đông từ năm 2010 đến nay”, số 1/2014, bài viết “Thực trạng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông”, số 7/2014 và đề tài “Một số nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông”, Đề tài cấp Viện Nghiên cứu Châu 14 z Phi và Trung Đông năm 2014.
Trong các công trình trên, Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp phân tích so sánh, phương pháp kế thừa để tìm ra các nhân tố tác động trong quan hệ ngoại giao, quan hệ kinh tế - thương mại, những tác động trong xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông và phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông. Qua đó, tác giả đã đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng hóa, các nhân tố tác động tích cực và tiêu cực và đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa sang thị trường các quốc gia và của khu vực Trung Đông [45,46,47,47,50] Trong công trình nghiên cứu của tác giả Đỗ Đức Định có tên “ Trung Đông và khả năng mở rộng quan hệ hợp tác với Việt Nam“, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội 2013, đã khái quát về hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông trong năm 2009 và năm 2010 đã gia tăng mạnh, xuất khẩu năm 2010 tăng 44,7% so với năm 2009. Đây là hai năm đầu tiên kiểm nghiệm sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cuối năm 2008. Điều này chứng tỏ khủng hoảng tài chính toàn cầu không ảnh hưởng đến xuất khẩu sang thị trường Trung Đông, không những thế cuộc khủng hoảng tài chính còn làm kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông gia tăng mạnh hơn.
Điều này cũng được lý giải do từ cuối năm 2008 nền kinh tế toàn cầu bắt đầu có những dấu hiệu khủng hoảng. Điều này đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang các thị trường truyền thống tại EU, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc. Công trình nghiên cứu “Xuất khẩu của Việt Nam sang châu Phi và Trung Đông: Cơ hội lớn, thách thức nhiều“ của tác giả Lê Minh Phương được đăng trong tạp chí Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông số 1 năm 2014 đã khái quát tổng quan về hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Trung Đông giai đoạn 2008 đến năm 2012 luôn có sự gia tăng về 15 z kim ngạch xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng cao, cũng như cơ cấu hàng hóa và thị trường xuất khẩu.