BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH --------------------- NGUYỄN QUÝ KIỆT TÁC ĐỘNG BẤT ĐỐI XỨNG CỦA THAY ĐỔI TỶ GIÁ LÊN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG CỦA VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP. Hồ Chí Minh – Năm 2020 123doc BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH --------------------- NGUYỄN QUÝ KIỆT TÁC ĐỘNG BẤT ĐỐI XỨNG CỦA THAY ĐỔI TỶ GIÁ LÊN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG CỦA VIỆT NAM Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng Mã ngành: 8340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.
NGUYỄN THỊ LIÊN HOA TP. Hồ Chí Minh – Năm 2020 123doc LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Tác động bất đối xứng của thay đổi tỷ giá lên cán cân thương mại song phương của Việt Nam” do PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa hướng dẫn là quá trình nghiên cứu của tôi. Các dữ liệu, kết quả trong luận văn là rõ ràng và minh bạch. Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 02 năm 2020 Tác giả Nguyễn Quý Kiệt 123doc MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC TÓM TẮT PHẦN 1: GIỚI THIỆU.
Giới thiệu chủ đề nghiên cứu. Động cơ nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu. Câu hỏi nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu. Kết cấu nghiên cứu. 9 PHẦN 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM. Lý thuyết nền tảng của hiệu ứng tỷ giá lên cán cân thương mại.
Tác động dài hạn, điều kiện Marshall-Lerner. Tác động ngắn hạn, hiệu ứng đường cong J. Các nghiên cứu thực nghiệm về kiểm chứng hiệu ứng đường cong J. Các nghiên cứu về mối quan hệ tuyến tính giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái.
Các nghiên cứu về mối quan hệ phi tuyến giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái. 27 PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Xây dựng mô hình cân bằng thương mại. Xác định biến và kỳ vọng dấu.
Cán cân thương mại song phương. Tỷ giá hối đoái thực song phương. Thu nhập thực trong nước. Thu nhập thực nước ngoài.
Mô tả và nguồn dữ liệu. Áp dụng phương pháp ARDL. Áp dụng phương pháp NARDL. 39 PHẦN 4: KẾT QUẢ.
Kiểm định tính dừng. Kết quả từ mô hình ARDL. Kết quả từ mô hình NARDL. 49 PHẦN 5: KẾT LUẬN.
55 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 123doc TÓM TẮT Nghiên cứu này xem xét hiện tượng đường cong J cho Việt Nam và 9 đối tác (cụ thể là Malaysia, Philippines, Indonesia, Singapore, Thái Lan, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc), sử dụng dữ liệu hàng quý trong giai đoạn 2000Q1– 2018Q1. Trong khi các nghiên cứu trước đây giả định mối quan hệ tuyến tính giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại, nghiên cứu này đề cập hiệu ứng phi tuyến. Dựa theo nghiên cứu của Bahmani-Oskooee và Fariditavana (2015), phương pháp thực nghiệm được sử dụng là mô hình tự hồi quy phân phối trễ đồng liên kết phi tuyến (NARDL) của Shin và cộng sự (2014), trong đó các hiệu ứng phi tuyến ngắn hạn và dài hạn được trình bày thông qua phân tách tổng từng phần dương (định giá thấp) và âm (định giá cao) của tỷ giá hối đoái thực. Một số nghiên cứu cho rằng việc thiếu ủng hộ cho hiện tượng đường cong J có thể là do giả định tuyến tính.
Vấn đề này được kiểm chứng bằng cách sử dụng các mô hình tuyến tính lẫn phi tuyến. Sử dụng mô hình ARDL tuyến tính, tác giả không thể tìm thấy sự hỗ trợ cho hiện tượng đường cong J. Tuy nhiên, khi sử dụng mô hình NARDL, mẫu hình đường cong J được xác nhận duy nhất trong mối quan hệ song phương giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Từ khóa: Đường cong J song phương, NARDL, đồng liên kết bất đối xứng.
ABSTRACT This article examines the J-curve phenomenon for Vietnam and its 9 partners (namely, Malaysia, Philippines, Indonesia, Singapore, Thailand, US, China, Japan and Korea) using quarterly data for the period 2000Q1–2018Q1. While previous studies assume a linear relationship between the exchange rate and the trade balance, this paper allows for nonlinearity. Following Bahmani-Oskooee and Fariditavana (2015), the empirical method used is the nonlinear cointegrating autoregressive distributed lag (NARDL) model of Shin et al. (2014) in which short- run and long-run nonlinearities are introduced via positive (depreciation) and 123doc negative (appreciation) partial sum decompositions of the real exchange rate.
Several papers argue that the lack of support for the J-curve phenomenon could be due to the linearity assumption. This issue is examined by utilizing the linear and the non-linear models. Using the linear ARDL model, we are unable to find support for the J-curve phenomenon in any case. However, employing the nonlinear ARDL model, the J-curve pattern has confirmed in the bilateral relationship between Vietnam and Korea.
Keywords: Bilateral J-curve, NARDL, asymmetry cointegration. 123doc 5 PHẦN 1: GIỚI THIỆU 1. Giới thiệu chủ đề nghiên cứu Sau hiệp định Smithsonian, đồng đô la Mỹ đã bị mất giá 15% vào năm 1971. Tuy nhiên, trong hai năm tiếp theo, cán cân thương mại của Mỹ lại không chứng kiến sự cải thiện rõ rệt nào.
Trước tình hình trên, Magee (1973) chỉ ra rằng cán cân thương mại của một quốc gia trên thực tế có thể xấu đi sau khi phá giá tiền tệ, do cấu trúc trễ (lag structure) trong mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại, trước khi có bất kỳ dấu hiệu cải thiện nào. Điều này dẫn đến giả thuyết “đường cong J”. Tài liệu về đường cong J đã phát triển theo cấp số nhân trong những năm qua với các phương pháp khác nhau được đề xuất nhằm kiểm tra sự hiện diện của nó trong dữ liệu. Lấy ví dụ, Bahmani-Oskooee (1985, 1989) đưa ra các cấu trúc trễ của tỷ giá hối đoái trong mô hình rút gọn với cán cân thương mại là biến phụ thuộc, và giải thích bằng chứng của đường cong J bằng sự hiện diện của ước tính âm (negative estimate) của tỷ giá hối đoái ở độ trễ thấp hơn, theo sau là ước tính dương của tỷ giá hối đoái ở độ trễ cao hơn.
Phương pháp được đề xuất bởi Bahmani-Oskooee (1985, 1989) được áp dụng cho phân tích ngắn hạn. Ngược lại, Rose và Yellen (1989) đề xuất khuôn khổ dựa trên mô hình sai số hiệu chỉnh Engle và Granger (1987) và phù hợp để ước tính cả tác động ngắn hạn cũng như tác động dài hạn của bước đi tỷ giá hối đoái. Điều này dẫn đến một cách giải thích mới về đường cong J. Theo cách giải thích mới này, bằng chứng về đường cong J được xác nhận một khi sự mất giá có liên quan đến sự cải thiện dài hạn của cán cân thương mại, và cũng tồn tại những dấu hiệu suy giảm cán cân thương mại trong ngắn hạn.
Cách giải thích cụ thể này đã được sử dụng rộng rãi để xác minh sự hiện diện của đường cong J, trong trường hợp của một quốc gia cũng như cho một nhóm các quốc gia. Các ví dụ bao gồm Himario (1985), người đã kiểm chứng sự hiện diện của đường cong J đối với 10 quốc gia phát triển và đang phát triển; Meade (1988) và Moffet (1989) kiểm chứng cho Mỹ; Felroe (1988) cho Úc; Noland (1989) cho Nhật Bản; Lal và Lowinger (2002) cho các nước Đông Á; Hacker và Hatemi-J (2003) cho các quốc gia Bắc Âu; và Moura và Da Silva (2005) cho Brazil, Halicioglu (2007, 123doc 6 2008) cho Thổ Nhĩ Kỳ; gần đây gồm Le Hoang Phong và cộng sự (2017), Nguyen Cam Nhung và cộng sự (2018) và Thi Xuan Thom (2017) cho Việt Nam. Động cơ nghiên cứu Việt Nam là nền kinh tế mở nhỏ và được phân loại là quốc gia đang phát triển. Do đó, sự thay đổi của cán cân ngoại thương ảnh hưởng đến các nền móng cơ bản của cán cân thanh toán.
Trong giai đoạn 2000–2018, nền kinh tế Việt Nam đối diện với vấn đề thâm hụt thương mại dai dẳng, trầm trọng nhất vào năm 2008, thời điểm xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (tham khảo Hình 1. Duy nhất trong năm 2014 và năm 2018, cán cân thương mại giữa Việt Nam với các đối tác là thặng dư. Thâm hụt cán cân thương mại quá nhiều có thể gây nguy hiểm cho nền kinh tế Việt Nam, châm ngòi cho các cuộc suy thoái và bất ổn trong tăng trưởng kinh tế (Ahad, 2017). Nhìn chung, việc phá giá ở Việt Nam (phá giá VND) nhiều lần đã được sử dụng làm công cụ chính sách nhằm cải thiện cán cân thương mại.
Một số lần phá giá tiền tệ có thể là thành công khi tăng xuất khẩu và giảm nhập khẩu, nhưng một số trong đó có thể là thất bại; do đó, nghiên cứu liệu hiệu ứng đường cong J có tồn tại và xác định thời gian hồi phục của cán cân thương mại là rất quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam. Nhiều nghiên cứu tại Việt Nam đã kiểm chứng sự hiện diện của hiệu ứng đường cong J ở cấp độ tổng hợp, điển hình như Le Hoang Phong và cộng sự (2017); Nguyen Cam Nhung và cộng sự (2018); và Thi Xuan Thom (2017). Tuy nhiên, việc sử dụng dữ liệu tổng hợp có thể gây nên vấn đề thiên lệch tổng hợp (aggregation bias), che đậy bản chất thực của các kết quả từ chính sách phá giá tiền tệ lên từng đối tác thương mại. Phá giá VND có thể cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam với một đối tác nhưng lại làm suy thoái cán cân song phương với đối tác khác.
Mặt khác, các phát hiện gần đây cho thấy mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại có thể là không đối xứng (Nusair, 2016; Bahmani-Oskooee và Saha, 2017). Do đó, việc kiểm chứng sự hiện diện của hiệu ứng đường cong J ở cấp độ song phương là cần thiết, giúp các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam hiểu rõ hiệu quả của chính sách phá giá lên từng đối tác thương mại cụ thể. 123doc 7 Can can thuong mai 10 0 -10 -20 00 02 04 06 08 10 12 14 16 18 Nguồn: Dữ liệu thống kê thương mại của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (DOTS). Cán cân thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2000–2018 (Đơn vị: Tỷ USD).
Mặc dù, các bằng chứng hỗ trợ cho sự hiện diện của đường cong J (dù tổng hợp hay song phương) tương đối phong phú và đa dạng. Thế nhưng, hiện tại, phần lớn các bằng chứng vẫn đang xoay quanh một giả định hạn chế, đó là hiệu ứng đối xứng của tăng giá và giảm giá tiền tệ lên cán cân thương mại, được mô tả bởi ước tính liên quan giữa độ co giãn của cán cân thương mại đối với tỷ giá hối đoái.