Chương 1 cũng như thiết kế trình tự nghiên cứu cho từng mô hình cụ thể. Chương 4: Kiểm định tác động nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam cũng như xác định ngưỡng nợ nước ngoài có tồn tại trong trường hợp Việt Nam. Nội dung chủ yếu của chương này là giới thiệu khái quát về nợ nước ngoài, tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1986-2016 và tiến hành ước lượng hồi quy các mô hình MIDAS, VECM cũng như thực hiện các kiểm định thống kê để đánh giá tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn nhằm tránh hồi quy giả mạo. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách.
Luận án đưa ra các kết luận về vai trò của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu dựa trên các kết quả kiểm định từ Chương 4 và đưa ra các khuyến nghị chính sách cũng như các hạn chế, định hướng nghiên cứu tiếp theo về vấn đề này. NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA NỢ NƯỚC NGOÀI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 2. Lý thuyết nợ nước ngoài 2. Khái niệm Theo Qũy tiền tệ quốc tế (IMF 2013), nợ nước ngoài tại một thời điểm là tổng dư nợ thực tế hiện có yêu cầu thanh toán các khoản gốc và/hoặc lãi của người đi vay tại một thời điểm trong tương lai (không bao gồm các khoản nợ dự phòng).
Đây là khoản nợ của người không cư trú vay người cư trú. Theo đó, các khoản nợ được thiết lập thông qua việc cung cấp các giá trị kinh tế như tài sản (tài chính hoặc phi tài chính), dịch vụ và/hoặc thu nhập bởi chủ nợ dành cho con nợ dưới hình thức hợp đồng, bao gồm các điều khoản và điều kiện thanh toán. Các cam kết cung cấp các giá trị kinh tế trong tương lai không thể thiết lập các nghĩa vụ nợ cho đến khi có sự thay đổi quyền sở hữu, ví dụ số tiền chưa được giải ngân theo cam kết cho vay hoặc các cam kết về tín dụng xuất khẩu sẽ không được tính trong tổng nợ nước ngoài. Ngoài ra, người đi vay có thể là các pháp nhân hoặc thể nhân trong nền kinh tế.
Khái niệm này được sử dụng thống nhất giữa WB, IMF, OECD và BIS trong đánh giá mức độ nợ của quốc gia. Theo Luật quản lý nợ công năm 2009 của Việt Nam, nợ nước ngoài là tổng các khoản nợ nước ngoài của chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh, nợ của doanh nghiệp và tổ chức khác được vay theo phương thức tự vay, tự trả theo qui định của pháp luật Việt Nam (Khoản 5 Điều 3). Theo đó, chủ thể đi vay là các pháp nhân, chưa đề cập đến thể nhân. Tuy nhiên, theo điều 17 được sửa đổi, bổ sung của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2014, đã cho phép các thể nhân được vay nợ nước ngoài.
Như vậy, số liệu nợ nước ngoài của Việt Nam trước năm 2014 không bao gồm nợ nước ngoài của 13 cá nhân và các tổ chức hợp tác xã. Qua đó cho thấy sự bất cập trong định nghĩa nợ nước ngoài giữa Việt Nam và thế giới. Tóm lại, nợ nước ngoài của một quốc gia được hiểu là các khoản nợ của người không cư trú vay người cư trú của một nền kinh tế, không phân biệt pháp nhân hay thể nhân, nhưng phải chịu trách nhiệm trả nợ đối với các khoản vay nợ của mình, phù hợp với các qui định của pháp luật hiện hành. Phân loại nợ nước ngoài Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ nước ngoài dựa trên chủ thể cho vay, đi vay hoặc căn cứ vào điều kiện cho vay.
Sau đây, luận án sẽ đi phân loại cụ thể theo từng tiêu chí như sau: Căn cứ vào chủ thể cho vay Nếu căn cứ vào chủ thể cho vay thì nợ nước ngoài chia thành nợ của các chủ nợ chính thức và nợ của các chủ nợ tư nhân. Nợ của các chủ nợ chính thức được hiểu là các chủ nợ của khu vực công như Chính phủ các nước và các tổ chức thuộc Chính phủ, bao gồm cả các chủ nợ đa phương như IMF, WB, ADB… và liên Chính phủ. Nợ của các chủ nợ tư nhân là các chủ nợ không phải là Chính phủ và các tổ chức thuộc khu vực công như các tổ chức tài chính tư nhân, các nhà xuất khẩu, các nhà sản xuất… có khả năng cung cấp tài chính. Căn cứ vào chủ thể vay nợ Căn cứ vào tiêu chí này thì nợ nước ngoài được phân chia thành nợ nước ngoài của khu vực công và khu vực tư nhân.
Nợ nước ngoài của khu vực công là các khoản nợ nước ngoài của chính phủ, chính quyền địa phương và các khoản nợ nước ngoài được chính phủ bảo lãnh. Nợ nước ngoài của khu vực tư nhân là các khoản nợ nước ngoài do các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế thuộc khu vực tư nhân thực hiện trên nguyên tắc tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm. Căn cứ theo thời hạn vay Căn cứ theo thời hạn vay thì nợ nước ngoài được phân chia thành nợ ngắn hạn và nợ dài hạn (WB 2013). Nợ nước ngoài ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn dưới 12 tháng.
Đối với các khoản vay trên 12 tháng được gọi là nợ nước ngoài dài hạn. 14 Trong đó, nợ ngắn hạn được quan tâm vì tác động đến khả năng thanh toán cũng như hệ số tín nhiệm quốc gia. Căn cứ theo điều kiện vay Theo tiêu chí này nợ nước ngoài được phân chia thành nợ ưu đãi và không ưu đãi. Theo Ủy ban hỗ trợ phát triển (Development Assistance Committee -DAC) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) thì nợ nước ngoài ưu đãi là các khoản vay nước ngoài mà yếu tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất là 25%.
Các chỉ số đo lường về nợ nước ngoài Để đánh giá năng lực trả nợ của các quốc gia, WB và IMF đưa ra các tiêu chí dựa trên cơ sở nghĩa vụ và khối lượng nợ. Khối lượng nợ (debt stock) phản ánh gánh nặng nợ có tính đến các khoản thanh toán nợ trong tương lai. Chỉ tiêu này được xem xét dưới góc độ danh nghĩa hoặc giá trị hiện tại ròng (Net Present Value-NPV) của nợ. Giá trị danh nghĩa của nợ đo lường tổng các khoản nợ gốc trong tương lai, không đề cập đến lãi suất của nợ.
Ngược lại, chỉ tiêu NPV thì tính đến giá trị chiết khấu của dòng chi trả nợ (gốc và lãi) trong tương lai. Chỉ tiêu nợ danh nghĩa thường được sử dụng khi đánh giá nợ trong nước còn chỉ tiêu NPV để đánh giá nợ nước ngoài. Tuy nhiên, chỉ tiêu NPV cũng không đánh giá được năng lực trả nợ thay đổi theo thời gian của các quốc gia. Nghĩa vụ nợ (debt service) là chỉ tiêu phản ánh các khoản nợ gốc và lãi chi trả hàng kỳ của các quốc gia, thông thường là tính theo năm.
Chỉ tiêu này phản ánh gánh nặng của chính sách tài khóa phải đương đầu và cũng cho biết khả năng thanh toán nợ ở thời điểm hiện tại của quốc gia có vấn đề gì hay không. Thông thường, nợ nước ngoài được so sánh với GDP, kim ngạch xuất khẩu và tổng thu ngân sách. GDP cho biết nguồn lực kinh tế tổng thể của một quốc gia, kim ngạch xuất khẩu cho biết nguồn lực ngoại tệ để trả nợ cho quốc gia và thu ngân sách nhà nước phản ánh khả năng của chính phủ trong việc tạo ra nguồn lực tài chính. Các chỉ tiêu nợ nước ngoài được xem xét cụ thể như sau: 15 Tỷ lệ giữa tổng nợ nước ngoài trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛ợ 𝑛ướ𝑐 𝑛𝑔𝑜à𝑖 𝐻1 = 𝑥100% 𝐺𝐷𝑃 Chỉ số này cho biết khả năng trả nợ (gốc và lãi) của một quốc gia đối với các khoản vay nước ngoài hay mỗi đồng tài sản của quốc gia thì có bao nhiêu đồng phải trả nước ngoài.
Tuy nhiên, chỉ số này chưa phản ánh được những rủi ro trong ngắn hạn mà các quốc gia phải đương đầu như sự mất cân đối về kì hạn giữa tài sản nợ và tài sản có hay sự thay đổi đột ngột của các dòng vốn, đặc biệt là sự dịch chuyển dòng vốn ra bên ngoài quốc gia đó. Theo WB, chỉ tiêu này trên 50% được xem là không bền vững và vượt quá giới hạn cho phép. Tỷ lệ nợ nước ngoài trên thu ngân sách nhà nước 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛ợ 𝑛ướ𝑐 𝑛𝑔𝑜à𝑖 𝐻2 = 𝑥100% 𝑇ℎ𝑢 𝑛𝑔â𝑛 𝑠á𝑐ℎ 𝑛ℎà 𝑛ướ𝑐 Đây là chỉ tiêu phản ánh mức độ vay nợ nước ngoài so với nguồn thu trực tiếp từ nền kinh tế để trả nợ và cho biết một đồng nợ nước ngoài được tài trợ bao nhiêu đồng từ các khoản thu ngân sách nhà nước. Tỷ lệ này càng cao thể hiện áp lực trả nợ từ nguồn thu ngân sách của chính phủ càng lớn.
Theo IMF, WB thì chỉ tiêu này trên 250% là vượt ngưỡng an toàn. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của các nước phát triển thì chỉ tiêu này vượt 200% là ở mức báo động về nợ nước ngoài của một quốc gia. Tỷ lệ nợ nước ngoài trên tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛ợ 𝑛ướ𝑐 𝑛𝑔𝑜à𝑖 𝐻3 = 𝑥100% 𝐾𝑖𝑚 𝑛𝑔ạ𝑐ℎ 𝑥𝑢ấ𝑡 𝑘ℎẩ𝑢 Chỉ số này phản ánh khả năng trả nợ bằng ngoại tệ của quốc gia, cho biết mỗi đồng thu được từ hoạt động xuất khẩu phải dành bao nhiêu đồng để trả nợ nước ngoài. Ý tưởng sử dụng chỉ tiêu này là nhằm phản ánh nguồn thu xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ là phương tiện mà một quốc gia có thể sử dụng để trả nợ nước ngoài.
Tuy nhiên chỉ số này cũng chưa phản ánh đầy đủ khả năng trả nợ của một quốc gia vì nguồn thu xuất khẩu rất dễ biến động từ năm này sang năm khác và cần có những phương án khác để trả nợ nước ngoài mà không nhất thiết phải tăng xuất khẩu như 16 hạn chế nhập khẩu hay giảm dự trữ ngoại hối quốc gia. Theo WB và IMF, chỉ tiêu này trên 150% là vượt ngưỡng an toàn về nợ nước ngoài. Tỷ lệ nghĩa vụ nợ trên tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ 𝑁𝑔ℎĩ𝑎 𝑣ụ 𝑛ợ 𝐻4 = 𝑥100% 𝐾𝑖𝑚 𝑛𝑔ạ𝑐ℎ 𝑥𝑢ấ𝑡 𝑘ℎẩ𝑢 Tỷ lệ này cho biết nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu của quốc gia đáp ứng được bao nhiêu phần trăm chi phí nợ vay nước ngoài, hệ số này càng nhỏ càng an toàn.