Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Xuân Trường thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng (mã số 9.01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Phan Thị Diệu Thảo, hoàn thành năm 2019.

Về tính cấp thiết, nghiên cứu xuất phát từ thực trạng Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, đối mặt với nhu cầu vốn rất lớn để xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và đầu tư phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, nội lực tài chính trong nước gặp nhiều rào cản do thâm hụt ngân sách kéo dài, tỷ lệ thu nhập bình quân, tỷ lệ tiết kiệm nội địa và quy mô dự trữ ngoại hối đều ở mức thấp. Để bù đắp hai khoảng cách thiếu hụt (tiết kiệm và ngoại tệ), việc huy động nguồn vốn vay từ bên ngoài trở thành kênh tài trợ quan trọng. Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007, nợ nước ngoài gia tăng nhanh chóng: nếu như năm 2007 quy mô nợ nước ngoài ở mức 23,2 tỷ USD thì đến năm 2016 đã đạt 86,95 tỷ USD, tương đương mức tăng 274% trong vòng 10 năm. Theo bảng xếp hạng của CIA năm 2017, Việt Nam đứng thứ 52 trên tổng số 208 quốc gia và vùng lãnh thổ về quy mô nợ nước ngoài. Đi cùng với sự gia tăng nợ, áp lực nghĩa vụ trả nợ trở nên nặng nề khi hàng năm Chính phủ phải dành gần 25% tổng thu ngân sách nhà nước để thực hiện nghĩa vụ chi trả nợ. Thực tế này đặt ra các rủi ro vĩ mô lớn như biến động tỷ giá làm gia tăng gánh nặng nợ, nguy cơ chèn lấn đầu tư công và suy giảm nguồn lực tích lũy nội địa, tương tự bài học khủng hoảng nợ tại các quốc gia đang phát triển hay trường hợp Thổ Nhĩ Kỳ năm 2018 (khi đồng nội tệ mất giá 70%, tỷ lệ nợ nước ngoài tăng vọt từ 50% lên 88% GDP).

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định dựa trên hai điểm nghẽn chính trong y văn thực nghiệm tại Việt Nam:

  • Hầu hết các nghiên cứu định lượng trước đây (như Nguyễn Hoàng Bảo và Đoàn Kim Thành, 2009; Nguyễn Hữu Tuấn, 2012; Nguyễn Ngọc Thạch và Trần Thị Kim Oanh, 2016) chủ yếu sử dụng các mô hình hồi quy OLS, VAR, VECM hoặc GMM với chuỗi dữ liệu cùng tần suất theo năm. Do dữ liệu chuỗi thời gian nợ nước ngoài tại Việt Nam có số lượng quan sát hàng năm hạn chế (thường dưới 30 quan sát), việc quy đổi tất cả các biến số về cùng tần suất năm đã làm triệt tiêu nhiều thông tin biến động vĩ mô giá trị, hoặc đối mặt với hiện tượng suy diễn thống kê kém tin cậy do cỡ mẫu nhỏ. Chưa có công trình nào tại Việt Nam ứng dụng mô hình hồi quy đa tần suất MIDAS (Mixed-Data Sampling) để tích hợp đồng thời biến có tần suất cao (GDP theo quý) với các biến có tần suất thấp hơn (dữ liệu nợ công bố theo năm).
  • Các nghiên cứu xác định ngưỡng nợ nước ngoài tại Việt Nam trước đó chủ yếu dừng lại ở chuỗi số liệu năm. Việc thiếu vắng một nghiên cứu định lượng xác định ngưỡng nợ ngoại sinh theo tần suất quý nhằm mở rộng số lượng quan sát và kiểm tra cơ chế truyền dẫn phi tuyến tính trong cả ngắn hạn lẫn dài hạn chính là khoảng trống cần được lấp đầy.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định rõ ràng:

  • Mục tiêu tổng quát: Đánh giá tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam bằng mô hình nghiên cứu định lượng.
  • Ba mục tiêu cụ thể gồm:
    1. Nghiên cứu tác động và đo lường mức độ tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
    2. Nghiên cứu tác động của ngưỡng nợ nước ngoài và đo lường mức độ tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
    3. Đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nợ nước ngoài để phát triển kinh tế Việt Nam.

Hai câu hỏi nghiên cứu được đặt ra tương ứng:

  • Câu hỏi 1: Nợ nước ngoài có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hay không? Nếu có, mức độ tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế như thế nào?
  • Câu hỏi 2: Có tồn tại ngưỡng nợ nước ngoài của Việt Nam hay không? Nếu có, ngưỡng nợ nước ngoài tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam?

Đối tượng nghiên cứu là tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về không gian là nền kinh tế Việt Nam; phạm vi về thời gian là giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2016 với dữ liệu thu thập theo quý (từ quý I/2000 đến quý IV/2016). Tác giả lựa chọn mốc thời gian này dựa trên ba căn cứ: (i) Đảm bảo tính nhất quán và khách quan của chuỗi dữ liệu sau khi Việt Nam hoàn tất ký kết hiệp định xử lý nợ với Liên bang Nga về các khoản nợ của Liên Xô cũ (Nga đồng ý xóa 85% khoản nợ 11 tỷ USD, phần còn lại 1,65 tỷ USD thanh toán trong 23 năm bằng hàng hóa theo Phạm Minh Chính và Vương Quân Hoàng, 2009), loại trừ được các cú sốc biến động bất thường do chuyển đổi tỷ giá giữa đồng rúp và USD; (ii) Đây là giai đoạn Việt Nam đẩy mạnh mở cửa, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu; (iii) Các chỉ tiêu vĩ mô trong giai đoạn này được thống kê, công bố công khai và tương đối đồng bộ theo các chuẩn mực quốc tế.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế, phân tách thành hai mạch nghiên cứu chính:

Nhóm các nghiên cứu về mối quan hệ tuyến tính:

  • Các nghiên cứu quốc tế: Fosu (1999) sử dụng phương pháp OLS trên hàm sản xuất mở rộng cho 35 quốc gia châu Phi vùng cận Sahara trong thập niên 1980, kết luận nợ nước ngoài tác động nghịch chiều đến tăng trưởng kinh tế. Were (2001) ứng dụng mô hình VECM nghiên cứu trường hợp Kenya (1970-1995), chỉ ra tỷ lệ nợ nước ngoài/GDP tác động tiêu cực đến tăng trưởng GDP thực và đầu tư tư nhân. Mohamed (2005) sử dụng OLS đánh giá dữ liệu Sudan (1978-2001), kết luận nợ nước ngoài và lạm phát quá khứ làm giảm tăng trưởng kinh tế, trong khi xuất khẩu có tác động thúc đẩy. Adegbite và cộng sự (2008) phân tích dữ liệu Nigeria giai đoạn 1975-2005 bằng cả mô hình tuyến tính và phi tuyến, ghi nhận nợ nước ngoài và xuất khẩu đóng vai trò thúc đẩy tăng trưởng trong mô hình tuyến tính. Ngược lại, các nghiên cứu của Sulaiman và Azeez (2012), Shah và Pervin (2012), Daud và cộng sự (2013), Korkmaz (2015) lại cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về tác động đồng biến tích cực của dòng vốn vay nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia đang phát triển khi vốn vay được phân bổ vào các lĩnh vực hạ tầng thiết yếu.
  • Các nghiên cứu trong nước: Đỗ Thiên Anh Tuấn (2003) vận dụng mô hình Jaime De Pines (1989) phân tích tính bền vững và dự báo nợ nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 2001-2010. Đỗ Đình Thu (2005) phân tích kinh nghiệm quản trị nợ từ Anh, Úc, Mỹ, Thái Lan để kiến nghị mô hình cơ quan quản lý nợ chuyên trách. Nguyễn Hoàng Bảo và Đoàn Kim Thành (2009) dùng mô hình hồi quy bội giai đoạn 1990-2007, kết luận nghĩa vụ nợ nước ngoài trên GDP tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn. Nguyễn Chí Hải (2011) và Nguyễn Hoàng (2012) phân tích thực trạng quản trị nợ, đánh giá khung pháp lý giám sát nợ công và chỉ ra sự phân tán, chồng chéo chức năng giữa các bộ, ngành.

Nhóm các nghiên cứu về quan hệ phi tuyến và ngưỡng nợ:

  • Xuất phát từ lý thuyết nghịch lý nợ (Debt overhang) của Krugman (1988) và Sachs (1984, 1989), nợ vay bên ngoài thúc đẩy tăng trưởng khi ở mức độ hợp lý, nhưng khi vượt qua đỉnh của đường cong Laffer nợ, việc tích tụ nghĩa vụ trả nợ sẽ dẫn tới hiệu ứng chèn lấn đầu tư, bóp méo chính sách thuế và làm suy giảm tổng sản lượng. Greene và Villanueva (1991) kiểm định thực nghiệm trên 23 nước đang phát triển giai đoạn 1975-1987, xác nhận mối quan hệ nghịch chiều giữa quy mô nợ và đầu tư tư nhân. Elbadawi và Ndungu (1997) ước lượng ngưỡng nợ nước ngoài theo đường cong Laffer là 97% GDP. Pattillo và cộng sự (2004) chứng minh nợ nước ngoài quá mức làm suy giảm tăng trưởng thông qua việc làm giảm năng suất nhân tố tổng hợp (TFP). Reinhart và Rogoff (2010) nghiên cứu 44 quốc gia, chỉ ra ngưỡng nợ đối với các nước phát triển là 90% GDP và các nước đang phát triển là 60% GDP. Checherita và Rother (2010) tìm thấy ngưỡng nợ công của khu vực Eurozone dao động từ 90% đến 100% GDP. Cechetti và cộng sự (2011) áp dụng kỹ thuật hồi quy ngưỡng của Hansen (1999) trên 18 nước OECD (1980-2010) cũng xác nhận tác động tiêu cực khi vượt ngưỡng nợ. Tại Việt Nam, Nguyễn Hữu Tuấn (2012), Nguyễn Ngọc Thạch và Trần Thị Kim Oanh (2016) đã bước đầu kiểm định tính phi tuyến nhưng đều sử dụng dữ liệu chuỗi năm với độ dài mẫu ngắn.

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết: Luận án định vị là công trình đầu tiên tại Việt Nam kết hợp đồng thời phương pháp hồi quy đa tần số MIDAS (để đánh giá quan hệ tuyến tính giữa biến GDP quý và biến nợ năm cùng các biến vĩ mô khác) và mô hình hiệu chỉnh sai số dạng véc-tơ VECM (để xác định ngưỡng nợ nước ngoài theo tần suất quý). Cách tiếp cận này giúp khắc phục triệt để hạn chế mất mát thông tin khi đồng nhất dữ liệu, mở rộng số quan sát lên 68 quý, tạo cơ sở thực nghiệm vững chắc để đánh giá toàn diện cả hai khía cạnh tuyến tính và phi tuyến của nợ nước ngoài tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khung phân tích

Luận án dựa trên hệ thống lý thuyết kinh tế học vĩ mô và tài chính quốc tế:

  • Khái niệm nợ nước ngoài: Chuẩn hóa theo định nghĩa của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 2013), nợ nước ngoài là tổng dư nợ thực tế hiện có tại một thời điểm đòi hỏi người đi vay phải thanh toán nợ gốc và/hoặc nợ lãi tại một thời điểm trong tương lai, được xác lập giữa người cư trú và người không cư trú. Tác giả đối chiếu định nghĩa này với Khoản 5 Điều 3 Luật Quản lý nợ công năm 2009 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2014, lần đầu tiên bổ sung thể nhân vào chủ thể vay nợ nước ngoài).
  • Các chỉ số đo lường nợ nước ngoài: Bao gồm khối lượng nợ danh nghĩa, giá trị hiện tại ròng của nợ (NPV) và nghĩa vụ nợ hàng kỳ (Debt service). Luận án tổng hợp 5 chỉ số cốt lõi đánh giá an toàn nợ theo chuẩn mực IMF và WB:
Ký hiệu Tên chỉ số đo lường nợ Công thức xác định Ngưỡng an toàn quốc tế (IMF/WB)
H1 Tỷ lệ tổng nợ nước ngoài trên GDP $(\text{Tổng nợ nước ngoài} / \text{GDP}) \times 100%$ $\le 50%$
H2 Tỷ lệ nợ nước ngoài trên thu NSNN $(\text{Tổng nợ nước ngoài} / \text{Thu NSNN}) \times 100%$ $\le 250%$ (các nước phát triển: $\le 200%$)
H3 Tỷ lệ nợ nước ngoài trên kim ngạch xuất khẩu $(\text{Tổng nợ nước ngoài} / \text{Kim ngạch xuất khẩu}) \times 100%$ $\le 150%$
H4 Tỷ lệ nghĩa vụ nợ trên kim ngạch xuất khẩu $(\text{Nghĩa vụ nợ} / \text{Kim ngạch xuất khẩu}) \times 100%$ $\le 15%$
H5 Tỷ lệ nghĩa vụ nợ trên thu NSNN $(\text{Nghĩa vụ nợ} / \text{Thu NSNN}) \times 100%$ $\le 18%$

Bên cạnh đó, tác giả sử dụng Khung nợ bền vững chung (Debt Sustainability Framework - DSF) ban hành tháng 04/2005 của IMF và WB dựa trên chỉ số đánh giá thể chế, chính sách quốc gia (CPIA) chia thành ba mức: chính sách yếu, trung bình và mạnh; sáng kiến giảm nợ cho các nước nghèo có gánh nặng nợ cao (HIPC I năm 1996, HIPC II năm 1999) và bảng tiêu chí phân loại gánh nặng nợ của Hjertholm (2001).

  • Các lý thuyết tăng trưởng và mô hình truyền dẫn:
    • Mô hình trường phái Cổ điển (Adam Smith, 1776; David Ricardo, 1817), trường phái Keynes (1936), mô hình Harrod-Domar (1940) với hệ số ICOR, mô hình tân cổ điển Solow (1956), mô hình tăng trưởng hiện đại Samuelson - Nordhaus (1976), mô hình tăng trưởng nội sinh (Barro, 1990; Romer, 1990; Lucas, 1998) và vốn thể chế (Platje, 2008; North, 2003).
    • Mô hình hai khoảng cách của Chenery và Strout (1966), kế thừa Chenery và Bruno (1962): $Y = C + I + X - M$, phân tích mối tương quan giữa khoảng cách tiết kiệm $(I - S)$ và khoảng cách thương mại $(M - X)$.
    • Mô hình ba khoảng cách của Bacha (1990) và Taylor (1994), bổ sung khoảng cách ngân sách nhà nước (Fiscal gap).
    • Cơ chế truyền dẫn tác động của nợ nước ngoài qua ba kênh của Kamin và cộng sự (1989): Kênh đầu tư, kênh tổng cầu và kênh nghĩa vụ trả nợ tương lai; cơ chế truyền dẫn qua chính sách tài khóa của Nautet và Meensel (2011).
    • Lý thuyết ngưỡng nợ và đường cong Laffer nợ (Krugman, 1988; Sachs, 1989; Cohen, 1993; Pattillo và cộng sự, 2004).

Phương pháp nghiên cứu định lượng

  1. Phương pháp ước lượng mô hình MIDAS (Mixed-Data Sampling): Được phát triển bởi Ghysels và cộng sự (2002, 2006, 2009), mô hình cho phép thực hiện hồi quy chuỗi thời gian khi các biến giải thích và biến phụ thuộc có tần suất thu thập khác nhau mà không cần làm mịn hay nội suy gượng ép dữ liệu. Trong luận án, biến phụ thuộc là tăng trưởng kinh tế (đo bằng GDP danh nghĩa lấy theo quý) được kết hợp với các biến độc lập như nợ nước ngoài (dữ liệu năm hoặc quý), độ mở nền kinh tế, tỷ giá và lạm phát. Quy trình kiểm định đi kèm bao gồm kiểm định phân phối chuẩn của phần dư và kiểm định tự tương quan phần dư.

  2. Phương pháp ước lượng mô hình VECM (Vector Error Correction Model): Được xây dựng trên nền tảng kỹ thuật đồng liên kết Johansen (1991), phát triển từ mô hình véc-tơ tự hồi quy (VAR). Phương pháp này thiết lập hệ phương trình hồi quy kết hợp giá trị hiện tại của biến với các giá trị trễ của chính nó và các biến khác, có bổ sung thành phần số hạng hiệu chỉnh sai số (ECT) phản ánh mức độ điều chỉnh về trạng thái cân bằng dài hạn. Quy trình phân tích gồm:

  • Kiểm định tính dừng của các chuỗi số liệu bằng kiểm định nghiệm đơn vị nghiệm mở rộng Dickey-Fuller (ADF).
  • Xác định bậc trễ tối ưu cho hệ phương trình.
  • Thực hiện kiểm định đồng liên kết Johansen thông qua kiểm định Vết (Trace statistic) và kiểm định Giá trị riêng cực đại (Maximum Eigenvalue).
  • Đưa biến giả ngưỡng nợ vào mô hình dưới dạng biến ngoại sinh để kiểm định tính phi tuyến.
  • Thực hiện kiểm định nhân quả Granger, phân tích phản ứng đẩy tích lũy (Impulse Response Functions) và phân rã phương sai Cholesky.
  • Kiểm định chẩn đoán khuyết tật mô hình: Kiểm định tự tương quan Portmanteau và nhân tử Lagrange (LM), kiểm định nghiệm nghịch đảo đa thức đặc trưng (AR roots table) và kiểm định phân phối chuẩn của phần dư.

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp chuỗi thời gian 68 quan sát quý (quý I/2000 – quý IV/2016) được trích xuất từ cơ sở dữ liệu chính thức của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu

Chương 1 thiết lập khung tổng thể cho toàn bộ luận án. Tác giả trình bày chi tiết bối cảnh nợ nước ngoài toàn cầu (tổng nợ thế giới năm 2016 đạt 6,9 triệu nghìn tỷ USD theo IDS 2018) và bức tranh nợ nước ngoài của Việt Nam sau hội nhập WTO. Luận án xác định rõ 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, 2 câu hỏi nghiên cứu trọng tâm về tính tuyến tính và phi tuyến tính của nợ nước ngoài, đối tượng, phạm vi thời gian (2000-2016) và cơ sở lựa chọn giai đoạn sau hiệp định xử lý nợ với Liên bang Nga. Tác giả cũng tóm lược các điểm mới, ý nghĩa học thuật, thực tiễn và kết cấu 5 chương của đề tài.

Chương 2: Nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế

Chương 2 cung cấp nền tảng lý luận toàn diện qua 4 nội dung lớn:

  • Lý thuyết nợ nước ngoài: Trình bày khái niệm, phân loại nợ theo chủ thể cho vay (chính thức, tư nhân), chủ thể đi vay (công, tư nhân), thời hạn (ngắn hạn, dài hạn) và điều kiện vay (ưu đãi theo chuẩn DAC/OECD với tỷ lệ viện trợ không hoàn lại tối thiểu 25%, thương mại). Trình bày chi tiết 5 chỉ số an toàn nợ, Khung nợ bền vững DSF và sáng kiến HIPC.
  • Lý thuyết tăng trưởng kinh tế: Điểm lại quá trình phát triển tư tưởng kinh tế từ Adam Smith, David Ricardo, J.M. Keynes, Harrod-Domar, Robert Solow, Samuelson đến các lý thuyết tăng trưởng nội sinh và vốn thể chế.
  • Cơ chế tác động của nợ nước ngoài: Phân tích mô hình hai khoảng cách của Chenery - Strout, mô hình ba khoảng cách của Bacha - Taylor, ba kênh truyền dẫn của Kamin và cộng sự, cơ chế tài khóa của Nautet - Meensel, và lý thuyết đường cong Laffer nợ của Krugman, Sachs, Cohen, Pattillo.
  • Tổng quan thực nghiệm: Tổng hợp bảng biểu phân loại các nghiên cứu tuyến tính và phi tuyến tính trên thế giới và tại Việt Nam, qua đó đúc kết khoảng trống nghiên cứu về phương pháp ước lượng và dữ liệu chuỗi tần suất quý.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 chi tiết hóa quy trình nghiên cứu thực nghiệm định lượng:

  • Trình bày toán học và cấu trúc ước lượng của phương pháp hồi quy đa tần suất MIDAS và mô hình véc-tơ hiệu chỉnh sai số VECM.
  • Xây dựng mô hình tổng quát tuyến tính và phi tuyến tính đánh giá tác động của nợ nước ngoài cùng các biến kiểm soát (độ mở nền kinh tế, tỷ giá hối đoái, lạm phát, cung tiền M2) đến GDP.
  • Xác định bảng kỳ vọng dấu của các biến số trong mô hình nghiên cứu.
  • Trình bày sơ đồ quy trình phân tích thực nghiệm mô hình MIDAS (Hình 3.1) và quy trình thực nghiệm mô hình VECM (Hình 3.2), mô tả chi tiết các nguồn số liệu thứ cấp thu thập từ IMF, ADB, WB và GSO giai đoạn 2000-2016.

Chương 4: Mô hình đánh giá tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Chương 4 là chương trọng tâm thực nghiệm của luận án, chia thành 4 phần chính:

  • Khái quát thực trạng nợ nước ngoài của Việt Nam (1986-2016): Phân tích nguồn tài trợ (chủ nợ song phương, đa phương, vốn ODA ưu đãi, trái phiếu quốc tế), hiệu quả sử dụng vốn vay qua hệ số ICOR so sánh với các nước châu Á, phân tích các chỉ số an toàn nợ giai đoạn 2011-2016 theo chuẩn WB và IMF.
  • Khái quát thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam qua 4 giai đoạn phát triển: 1986-1990, 1991-1997, 1998-2007 và 2008-2016, phân tích cơ cấu tăng trưởng kinh tế theo ngành nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng và dịch vụ.
  • Phân tích thực nghiệm mô hình tuyến tính MIDAS: Thống kê mô tả chuỗi dữ liệu (Bảng 4.14), kiểm định nghiệm đơn vị ADF (Bảng 4.15), ước lượng phương trình MIDAS (Bảng 4.16). Kết quả chỉ ra nợ nước ngoài tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế; độ mở nền kinh tế, tỷ giá và cung tiền M2 cũng có mối quan hệ đồng biến có ý nghĩa thống kê; kiểm định phần dư cho thấy phân phối chuẩn và không có tự tương quan (Hình 4.11, 4.12).
  • Phân tích thực nghiệm mô hình phi tuyến tính VECM: Thống kê mô tả (Bảng 4.17), kiểm định ADF (Bảng 4.18), xác định độ trễ tối ưu (Bảng 4.19), kiểm định đồng liên kết Johansen (Bảng 4.20, 4.21). Kết quả ước lượng VECM dài hạn (Bảng 4.22) và ngắn hạn (Bảng 4.23) khẳng định:
    • Tồn tại ngưỡng nợ nước ngoài ở mức 21,5% GDP quý.
    • Biến giả ngưỡng nợ có ý nghĩa thống kê trong ngắn hạn, phản ánh rõ dạng đường cong Laffer nợ tại Việt Nam (Hình 4.14).
    • Trong dài hạn, nợ nước ngoài có tác động tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (hệ số dương có ý nghĩa thống kê), nhưng gia tăng nợ nước ngoài lại gây tác động tiêu cực đến độ mở nền kinh tế (tăng 1% nợ nước ngoài/GDP làm giảm 95% độ mở).
    • Kiểm định nhân quả Granger (Bảng 4.24), phân rã phương sai (Bảng 4.25), kiểm định Portmanteau, Lagrange (Bảng 4.26) và kiểm định phân phối chuẩn (Bảng 4.27) đều khẳng định mô hình ổn định, không có hiện tượng hồi quy giả mạo.

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách

Dựa trên kết quả định lượng, chương 5 đưa ra hệ thống giải pháp chính sách:

  • Đề xuất tái cấu trúc mô hình quản lý nợ nước ngoài: Thành lập Hội đồng quản lý nợ nước ngoài trực thuộc Chính phủ (Hình 5.1) nhằm xóa bỏ tình trạng phân tán quyền hạn giữa Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
  • Tăng cường tính minh bạch và chuẩn hóa công tác công bố thông tin nợ của Bộ Tài chính (Hình 5.2) theo định kỳ và chuẩn mực quốc tế.
  • Kiểm soát chặt chẽ quy mô vay nợ xung quanh ngưỡng tối ưu 21,5% GDP quý; nâng cao hiệu quả phân bổ vốn đầu tư công, giảm hệ số ICOR, tập trung vốn vay nước ngoài vào các công trình hạ tầng phục vụ các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu để tạo nguồn ngoại tệ trả nợ bền vững.
  • Nâng cấp hệ thống thống kê kinh tế vĩ mô, xây dựng cơ sở dữ liệu nợ nước ngoài theo quý thống nhất để phục vụ công tác dự báo rủi ro kịp thời.

Kết quả và những đóng góp mới

Những phát hiện và đóng góp mới của luận án

  1. Về phương pháp luận nghiên cứu: Luận án là công trình tiên phong tại Việt Nam ứng dụng mô hình hồi quy đa tần suất MIDAS để đánh giá mối quan hệ tuyến tính giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế. Phương pháp này giải quyết được mâu thuẫn bất tương thích giữa biến GDP công bố theo quý và số liệu nợ nước ngoài công bố theo năm, khắc phục nhược điểm làm mất thông tin của các kỹ thuật gộp mẫu truyền thống.
  2. Về kết quả thực nghiệm tuyến tính: Khác với kết luận tác động tiêu cực của Nguyễn Hoàng Bảo và Đoàn Kim Thành (2009), kết quả ước lượng MIDAS của luận án chứng minh nợ nước ngoài có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2000-2016. Tỷ lệ nợ nước ngoài/GDP tăng 1% thúc đẩy tăng trưởng GDP; đồng thời độ mở thương mại và cung tiền M2 cũng đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế.
  3. Về xác định ngưỡng nợ phi tuyến tính: Luận án đã phát hiện và chứng minh thực nghiệm sự tồn tại của ngưỡng nợ nước ngoài tại Việt Nam là 21,5% GDP tính theo tần suất quý thông qua mô hình VECM với biến giả ngoại sinh. Kết quả cho thấy biến ngưỡng nợ có ý nghĩa thống kê trong ngắn hạn, minh chứng cho sự tồn tại của đường cong Laffer nợ. Trong dài hạn, nợ nước ngoài duy trì tác động tích cực đến tăng trưởng, nhưng việc gia tăng nợ nước ngoài lại gây suy giảm mạnh độ mở nền kinh tế (tăng 1% tỷ lệ nợ nước ngoài/GDP làm giảm 95% độ mở nền kinh tế).
  4. Về tính đồng bộ trong phân tích: Luận án kết hợp đồng thời cả hai hướng tiếp cận tuyến tính và phi tuyến tính trên cùng một giai đoạn nghiên cứu (2000-2016), củng cố bằng chứng thực nghiệm về vai trò thiết yếu của vốn vay nước ngoài đối với công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.

Khuyến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đổi mới thể chế quản lý nợ: Thành lập cơ quan chuyên trách quản lý nợ thống nhất - Hội đồng quản lý nợ nước ngoài thuộc Chính phủ, khắc phục sự phân khúc giữa ba đầu mối quản lý (Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước).
  • Quản trị ngưỡng an toàn: Giám sát chặt chẽ tỷ lệ nợ nước ngoài quanh ngưỡng giới hạn 21,5% GDP quý; thiết lập cơ chế cảnh báo sớm nhằm ngăn chặn rủi ro vượt ngưỡng làm đảo chiều tác động của nợ đối với tăng trưởng.
  • Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay: Ưu tiên vốn vay nước ngoài cho các dự án kết cấu hạ tầng then chốt có tính lan tỏa cao, hỗ trợ công nghiệp phụ trợ và xuất khẩu, qua đó tạo nguồn thu ngoại hối để tự cân đối nghĩa vụ trả nợ, hạn chế việc phải dùng nguồn thu ngân sách chung để trang trải nợ vay.
  • Chuẩn hóa hệ thống dữ liệu: Tăng cường công tác thống kê nợ nước ngoài theo chuẩn mực quốc tế, đẩy mạnh tần suất công bố dữ liệu theo quý nhằm phục vụ kịp thời công tác phân tích, dự báo rủi ro vĩ mô.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án chỉ rõ các hạn chế nghiên cứu sau:

  • Hạn chế về chuỗi dữ liệu: Do tính sẵn có của dữ liệu nợ nước ngoài tại Việt Nam, chuỗi số liệu nợ nước ngoài theo quý trước năm 2010 còn thiếu hụt, đòi hỏi tác giả phải sử dụng kỹ thuật kết hợp dữ liệu MIDAS và các giả định gán dữ liệu quý trong mô hình VECM.
  • Khung thời gian nghiên cứu: Luận án giới hạn chuỗi dữ liệu kết thúc ở quý IV/2016, chưa phản ánh được các biến động vĩ mô và sự thay đổi trong Luật Quản lý nợ công sửa đổi năm 2017 (có hiệu lực từ năm 2018).
  • Phạm vi biến số: Mô hình VECM tiếp cận ngưỡng nợ dưới dạng biến giả ngoại sinh được kiểm định lặp, chưa ứng dụng các mô hình hồi quy ngưỡng chuyển tiếp mượt (STAR) hoặc mô hình hồi quy ngưỡng bảng động (Dynamic Panel Threshold) để theo dõi sự dịch chuyển ngưỡng nợ liên tục theo thời gian.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Đề tài gợi mở việc kéo dài chuỗi dữ liệu sau năm 2016, phân tích tách biệt tác động của nợ nước ngoài khu vực công và nợ nước ngoài khu vực tư nhân (theo tinh thần Pháp lệnh Ngoại hối sửa đổi năm 2014), đồng thời ứng dụng các phương pháp lượng giác phi tuyến bậc cao để đánh giá sự thay đổi của ngưỡng nợ theo các chu kỳ kinh tế.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo học thuật và thực tiễn giá trị cho các nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng: Luận án cung cấp cẩm nang chi tiết về cách xây dựng mô hình hồi quy đa tần suất MIDAS và mô hình đồng liên kết VECM với biến giả ngoại sinh; hệ thống hóa mạch lạc các trường phái tăng trưởng, khung nợ bền vững của IMF/WB và lý thuyết đường cong Laffer nợ.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Các phát hiện về ngưỡng nợ 21,5% GDP quý, sự suy giảm độ mở thương mại khi nợ tăng cao và sơ đồ đề xuất thành lập Hội đồng quản lý nợ nước ngoài trực thuộc Chính phủ là luận cứ thực tiễn để xây dựng chiến lược vay và trả nợ công trung, dài hạn.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Chương 3 (thiết kế quy trình ước lượng định lượng MIDAS và VECM) và Chương 4 (kết quả ước lượng thực nghiệm, kiểm định nghiệm đơn vị, kiểm định đồng liên kết Johansen và phân tích hàm phản ứng đẩy).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng những mô hình định lượng nào để trả lời hai câu hỏi nghiên cứu?
Luận án sử dụng hai mô hình định lượng chính: Mô hình hồi quy đa tần suất MIDAS (Mixed-Data Sampling) dùng để đánh giá tác động tuyến tính của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế bằng cách tích hợp dữ liệu GDP theo quý và nợ nước ngoài theo năm; Mô hình véc-tơ hiệu chỉnh sai số VECM (Vector Error Correction Model) với biến giả ngoại sinh theo phương pháp Johansen dùng để đánh giá tác động phi tuyến tính và xác định ngưỡng nợ nước ngoài.

2. Kết quả kiểm định thực nghiệm về ngưỡng nợ nước ngoài của Việt Nam là bao nhiêu?
Kết quả ước lượng từ mô hình VECM xác định ngưỡng nợ nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 2000-2016 là 21,5% GDP quý. Biến ngưỡng nợ có ý nghĩa thống kê trong ngắn hạn, khẳng định mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế tuân theo dạng đường cong Laffer nợ (tác động tích cực khi nằm dưới ngưỡng và suy giảm hiệu quả khi vượt ngưỡng).

3. Tác động dài hạn của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế và độ mở thương mại của Việt Nam như thế nào?
Trong dài hạn, nợ nước ngoài có tác động tích cực có ý nghĩa thống kê đến tăng trưởng GDP (khi tỷ lệ nợ nước ngoài/GDP tăng 1% sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế). Tuy nhiên, nợ nước ngoài lại gây tác động tiêu cực rất mạnh đến độ mở nền kinh tế: Cứ tăng 1% tỷ lệ nợ nước ngoài/GDP sẽ làm giảm 95% độ mở của nền kinh tế, do áp lực tích tụ nghĩa vụ trả nợ làm suy giảm nguồn lực tái đầu tư hỗ trợ khu vực xuất khẩu.

4. Vì sao tác giả lựa chọn phạm vi thời gian nghiên cứu từ năm 2000 đến năm 2016?
Tác giả lựa chọn giai đoạn 2000-2016 vì ba lý do: (i) Đảm bảo tính nhất quán sau khi Việt Nam ký thỏa thuận xử lý dứt điểm các khoản nợ cũ với Liên bang Nga (xóa 85% khoản nợ 11 tỷ USD, còn 1,65 tỷ USD trả trong 23 năm bằng hàng hóa), tránh được sai lệch do chuyển đổi tỷ giá rúp - USD; (ii) Đây là giai đoạn Việt Nam hội nhập kinh tế sâu rộng nhất; (iii) Các số liệu kinh tế vĩ mô được thu thập và công bố tương đối đầy đủ, thống nhất theo chuẩn quốc tế.

5. Luận án đề xuất mô hình thể chế quản lý nợ nước ngoài như thế nào?
Luận án kiến nghị Chính phủ thành lập một cơ quan đầu mối chuyên trách độc lập là Hội đồng quản lý nợ nước ngoài trực thuộc Chính phủ (Hình 5.1). Mô hình này nhằm thống nhất công tác quản lý, giám sát và thẩm định vốn vay nước ngoài, xóa bỏ tình trạng phân tán quyền hạn, thiếu kết nối giữa Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Xuân Trường đã giải quyết một cách khoa học vấn đề tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2000-2016 thông qua việc kết hợp hai phương pháp định lượng MIDAS và VECM. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định tác động tích cực của dòng vốn vay nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế dài hạn, đồng thời xác lập ngưỡng an toàn của nợ nước ngoài ở mức 21,5% GDP quý. Các phát hiện về sự suy giảm độ mở nền kinh tế khi nợ gia tăng cùng hệ thống giải pháp tái cấu trúc cơ quan quản lý nợ và nâng cao chất lượng thống kê vĩ mô là những đóng góp có giá trị học thuật và thực tiễn đối với công tác điều hành chính sách tài chính quốc gia.