Chương 1 của luận án sẽ tổng quan các nghiên cứu nói trên với sự phân chia thành hai nhánh lớn: (1) các công trình nghiên cứu lý thuyết; và (2) các công trình nghiên cứu thực nghiệm về tác động của hội nhập tài chính đến tình trạng đói nghèo để xác định khoảng trống nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án. Tổng quan các nghiên cứu lý thuyết về tác động của hội nhập tài chính đến tình trạng đói nghèo Hội nhập tài chính và những tác động đối với tăng trưởng kinh tế là một trong những chủ đề được nghiên cứu rộng rãi, đặc biệt là trong các lĩnh vực tài chính và kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu lý thuyết về mối quan hệ giữa hội nhập tài chính và tình trạng đói nghèo và một số nghiên cứu về chủ đề này đã được chọn lọc và phân nhóm như sau: Nhóm 1: các nghiên cứu lý thuyết về mối quan hệ giữa hội nhập tài chính, đầu tư trong nước, tăng trưởng kinh tế và tình trạng đói nghèo: Công trình nghiên cứu của Agenor (2004) đề cập đến khả năng tiếp cận và sử dụng nguồn vốn quốc tế có thể ảnh hưởng đến đầu tư trong nước và tăng trưởng kinh tế. Ở nhiều quốc gia đang phát triển, khả năng tiết kiệm bị hạn chế bởi mức thu nhập thấp.
Khi lợi nhuận cận biên từ đầu tư ít nhất bằng chi phí vốn, dòng vốn ròng nước ngoài chảy vào có thể bổ sung tiết kiệm trong nước, tăng mức vốn vật chất trên mỗi lao động và giúp nước nhận đầu tư nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế và cải thiện mức sống và tiêu chuẩn sống. Những lợi ích tiềm năng này có thể được khai thác đặc biệt từ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng, FDI cũng có thể có những ảnh hưởng gián tiếp đáng kể trong dài hạn. Nghiên cứu của Grossman & Helpman (1991) chỉ ra rằng FDI có thể tạo điều kiện cho việc chuyển giao hay tạo ra tác động lan tỏa của các phương pháp quản lý và bí quyết công nghệ, dưới dạng vốn đầu vào, từ đó thúc đẩy cải thiện kỹ năng và trình độ 12 của lực lượng lao động, đặc biệt lao động phổ thông, những người có thu nhập thấp, mở ra cơ hội tăng thu nhập cho nhóm nghèo.
Nghiên cứu của Markusen & Venables (1999) cho rằng mức độ cạnh tranh gia tăng trên các thị trường sản phẩm do có sự tham gia của doanh nghiệp FDI mặc dù có thể làm giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp địa phương, nhưng trong tương lai có thể làm giảm chi phí đầu vào, nâng cao lợi nhuận, và kích thích đầu tư trong nước do tác động tràn thông qua liên kết các ngành cung ứng. Chi phí đầu vào giảm dẫn đến giá thành sản phẩm giảm giúp tăng cơ hội cho những người thu nhập thấp trong xã hội được tiếp cận, sử dụng hàng hoá với giá thành phải chăng, từ đó tăng chất lượng và tiêu chuẩn sống. Nhóm 2: các nghiên cứu lý thuyết về mối quan hệ giữa hội nhập tài chính, kỷ luật kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế và tình trạng đói nghèo: Nghiên cứu của Obstfeld (1998) đưa ra kết luận rằng khi có sự dịch chuyển tự do dòng vốn qua biên giới có thể khiến các quốc gia tuân theo các chính sách kinh tế vĩ mô có kỷ luật hơn và do đó giảm những sai lầm về chính sách để ổn định kinh tế vĩ mô, và có thể dẫn đến tăng trưởng kinh tế cao hơn. Hội nhập tài chính là một tín hiệu cho thấy một quốc gia đang sẵn sàng áp dụng các chính sách kinh tố vĩ mô “lành mạnh”, điển hình như giảm thâm hụt ngân sách và bỏ qua thuế lạm phát, từ đó chính phủ có thể dành thêm nhiều ngân sách hỗ trợ những người có thu nhập thấp trong xã hội hơn.
Nghiên cứu của Bartolini & Drazen (1997) chỉ ra rằng hội nhập tài chính giúp khuyến khích ổn định tài chính, đảm bảo phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn và tăng trưởng kinh tế cao hơn, có thể dẫn đến việc tạo thêm công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Nhóm 3: các nghiên cứu lý thuyết về mối quan hệ giữa hội nhập tài chính, hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại, ổn định tài chính và tình trạng đói nghèo: Công trình nghiên cứu của Caprio & Honohan (1999) lập luận rằng hội nhập tài chính giúp phát triển cả về chiều sâu và chiều rộng của thị trường tài chính trong nước và từ đó tăng hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại, cải thiện việc phân bổ nguồn lực bằng cách giảm chi phí liên quan đến độc quyền. Các nhà nghiên cứu này cho rằng sự thâm nhập của ngân hàng thương mại nước ngoài có thể cải thiện chất lượng và đa dạng các dịch vụ tài chính ở thị trường trong nước, bằng cách tăng mức độ cạnh tranh của ngân hàng thương mại và cho phép áp dụng các kỹ thuật và công nghệ ngân hàng điển hình như hệ thống quản lý rủi ro tiên tiến hơn, có thể cải thiện hiệu quả bằng cách 13 giảm chi phí thu thập và xử lý thông tin về những người đi vay tiềm năng, kích thích sự phát triển của khuôn khổ pháp lý và giám sát ngân hàng thương mại trong nước, tăng cường khả năng tiếp cận vốn quốc tế của một quốc gia, trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các ngân hàng mẹ, góp phần vào sự ổn định của hệ thống tài chính trong nước (và giảm sự biến động của dòng vốn) vì trong những giai đoạn bất ổn tài chính, người gửi tiền có thể chuyển tiền của họ ra các tổ chức nước ngoài được cho là lành mạnh hơn so với các ngân hàng thương mại trong nước. Ngoài ra, các ngân hàng thương mại nước ngoài cũng có thể góp phần cải thiện chất lượng tổng thể danh mục tín dụng của các ngân hàng thương mại trong nước vì các ngân hàng này ít bị áp lực của chính phủ trong việc cho vay đối với những người đi vay "ưu tiên" như trường hợp của các tổ chức tài chính trong nước, cụ thể là những đối tượng liên quan đến nhà nước.
Danh mục tín dụng được cải thiện sẽ tăng cơ hội cho người nghèo được tiếp cận với nguồn vốn, thay vì nguồn vốn chỉ tập trung vào các đối tượng có thu nhập tốt, có khả năng hoàn trả vốn cao từ góc độ nhìn nhận và đánh giá của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, công trình của Giannetti & Ongena (2009) đã chỉ ra rằng do sự bất cân xứng về thông tin, các ngân hàng thương mại nước ngoài có thể chỉ ưu tiên cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại khác, các công ty lớn và các cá nhân giàu có, tạo ra những bất lợi các doanh nghiệp khởi nghiệp và người nghèo. Nhóm 4: các nghiên cứu về mối quan hệ giữa hội nhập tài chính, tăng trưởng kinh tế, phân phối thu nhập và tình trạng đói nghèo: Một số nhà nghiên cứu đã tập trung vào mối quan hệ giữa hội nhập tài chính với tăng trưởng kinh tế, phân phối thu nhập và tình trạng đói nghèo: Nghiên cứu của Aghion & các cộng sự (1999) nhấn mạnh rằng sự bất bình đẳng phân phối thu nhập có thể gây hại cho tăng trưởng kinh tế thông qua một số kênh, từ đó tăng tỷ lệ nghèo. Quan điểm kinh tế chính trị cho rằng bất bình đẳng thu nhập cao có thể gây ra xung đột và bất ổn chính trị, do đó làm suy giảm đầu tư và tăng trưởng kinh tế.
Công trình của Alesina & Perotti, (1996) chỉ ra rằng bất bình đẳng cản trở tăng trưởng kinh tế một cách đáng kể khiến gia tăng tỷ lệ nghèo, điều này tạo cơ sở cho các nghiên cứu về "tăng trưởng vì người nghèo" hoặc "tăng trưởng toàn diện". Công trình của Lopez (2004), dựa trên quan điểm của Keynes, chỉ ra rằng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập cản trở tăng trưởng kinh tế vì người nghèo không thể cung cấp đủ giáo dục cho trẻ em, đồng thời phải đối mặt với những thất bại của thị trường tài chính do thông tin bất cân xứng. Bất bình đẳng thu nhập cũng có thể có hại 14 cho tăng trưởng kinh tế bằng cách làm trầm trọng thêm bất ổn kinh tế vĩ mô và hạn chế năng lực của chính phủ trong việc quản lý nền kinh tế. Nghiên cứu của Rodrik (1999) lập luận rằng bất bình đẳng tập trung sự giàu có và quyền lực vào một số ít các nhóm, làm tăng khoảng cách giàu nghèo, đồng nghĩa với việc làm trầm trọng tỷ lệ đói nghèo do đó cản trở sự phát triển của các thể chế có thể khuyến khích kinh tế tăng trưởng (WB, 2005).
Tuy nhiên, hội nhập tài chính góp phần thúc đẩy phát triển tài chính, thì những hạn chế về tài chính có thể giảm bớt và các tác động tiêu cực của bất bình đẳng đối với tăng trưởng có thể trở nên nhỏ hơn, có thể giúp giảm tỷ lệ đói nghèo. Nhóm 5: các nghiên cứu lý thuyết về mối quan hệ giữa hội nhập tài chính, khủng hoảng và tình trạng đói nghèo: Một trong những lợi ích tiềm năng quan trọng của hội nhập tài chính đó là việc tiếp cận thị trường vốn thế giới mở rộng cơ hội cho các nhà đầu tư đa dạng hóa danh mục đầu tư và có thể nhận đạt được tỷ lệ sinh lời điều chỉnh theo rủi ro cao hơn. Nghiên cứu của Obstfeld (1994) lập luận rằng việc tiếp cận thị trường vốn thế giới cho phép các quốc gia có thể vay nợ để tiêu dùng một cách dễ dàng hơn khi đối mặt với những cú sốc bất lợi, và từ đó có thể duy trì tăng trưởng kinh tế, tăng phúc lợi. Ngoài ra, nghiên cứu của Ozcan & Manganelli (2008) đã chỉ ra rằng mức độ hội nhập hệ thống ngân hàng cao hơn ở các quốc gia đặc biệt trong khu vực liên minh tiền tệ sẽ làm tăng chia sẻ rủi ro trong tiêu dùng.
Phát hiện của các nhà nghiên cứu này có ý nghĩa chính sách quan trọng đối với đồng tiền chung. Các cú sốc bất đối xứng trong liên minh tiền tệ tạo ra chênh lệch sản lượng và lạm phát. Tác động của những cú sốc như vậy sẽ giảm đi nhiều nếu chia sẻ rủi ro xuyên quốc gia là đáng kể. Việc chia sẻ rủi ro cho phép bảo hiểm rủi ro trong tiêu dùng, sẽ tạo ra một cơ chế chống lại các cú sốc bất đối xứng về sản lượng giữa các thành viên của một liên minh tiền tệ, đảm bảo duy trì tăng trưởng kinh tế và cải thiện phúc lợi.