Chương 1: Giới thiệu tổng quan. Nôi dung chương trình bày về lý do lựa chọn nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu, các mục tiêu nghiên cứu cần đạt được và các câu hỏi nghiên cứu để trả lời cho mục tiêu nghiên cứu. Bên cạnh đó, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được làm rõ cũng những những điểm mới của nghiên cứu được làm rõ. Chương 2: Cơ sở lý thuyết.
Nội dung chương trình bày cơ sở lý thuyết về bất ổn tài chính và mối quan hệ tác động của bất ổn tài chính đến khu vực kinh tế thực. Bên n 11 cạnh đó, chương tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm về đo lường bất ổn tài chính bằng chỉ số căng thẳng tài chính và các nghiên cứu có liên quan về tác động giữa bất ổn và khu vực kinh tế thực. Trên cơ sở đó có những phân tích thảo luận, rút ra những nhận xét, và chỉ ra các khoảng trống nghiên cứu có thể hoàn thiện trong nghiên cứu các nước đang phát triển khu vực ASEAN. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Nội dung chương trình bày về phương pháp xây dựng và đánh giá hiệu quả chỉ số căng thẳng tài chính áp dụng đối với các nước đang phát triển khu vực ASEAN, phương pháp Markov-switching ngưỡng để xác định đặc điểm giai đoạn bất ổn tài chính. Tiếp theo là phương pháp VAR ngưỡng đánh giá tác động ngưỡng giữa bất ổn tài chính và khu vực kinh tế thực áp dụng đối với các nước phát triển khu vực ASEAN với hai biến nội sinh là chỉ số căng thẳng tài chính và biến đại diện khu vực kinh tế thực. Cuối cùng là phân tích về lựa chọn dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Nội dung trong chương này trình bày về kết quả đo lường và đánh giá hiệu quả của chỉ số căng thẳng tài chính đối với từng nước trong mẫu nghiên cứu. Dựa vào chỉ số căng thẳng tài chính được xây dựng, kết quả thực nghiệm về các giai đoạn bất ổn tài chính khác nhau được trình bày và thảo luận đối với từng nước trong mẫu nghiên cứu. Sau cùng là trình bày kết quả ước lượng mô hình đo lường tác động ngưỡng của bất ổn tài chính và khu vực kinh tế thực đối với từng nước đang phát triển khu vực ASEAN và phân tích kết quả phản ứng của khu vực kinh tế thực và khu vực tài chính trước tác động của các cú sốc tài chính. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách.
Chương này tóm tắt lại các kết quả nghiên cứu của các chương trước đó và trên cơ sở đó đưa ra các hàm ý chính sách. Cuối cùng là chỉ ra những giới hạn nghiên cứu và đề xuất các hướng nghiên cứu mở rộng tiếp theo. n 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG GIỮA BẤT ỔN TÀI CHÍNH VÀ KHU VỰC KINH TẾ THỰC Nội dung của chương trình bày cơ sở lý thuyết về bất ổn tài chính và về mối quan hệ giữa bất ổn tài chính và khu vực kinh tế thực. Bên cạnh đó, tác giả lược khảo các nghiên cứu về đo lường bất ổn tài chính bằng chỉ số căng thẳng tài chính, các nghiên cứu về xác định giai đoạn bất ổn tài chính, và về mối quan hệ tác động giữa bất ổn tài chính và khu vực kinh tế thực.
Trên cơ sở đó, tác giả rút ra được các khoảng trống trong nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết về bất ổn tài chính 2. Các khái niệm về bất ổn tài chính Nhiều định nghĩa được đưa ra về bất ổn tài chính và được phân làm hai hướng tiếp cận. Thứ nhất, các nghiên cứu định nghĩa ổn định tài chính là tình trạng ổn định mong muốn của hệ thống tài chính (Schinasi, 2004; Allen và Wood, 2006).
Ổn định tài chính được hiểu là sự vắng mặt của căng thẳng tài chính hoặc căng thẳng tài chính ở mức thấp, tình trạng không chắc chắn trên thị trường tài chính thấp (Apostolakis & Papadopoulos, 2015). Thứ hai, các nghiên cứu khác tiếp cận khái niệm này ở khía cạnh bất ổn của khu vực tài chính. Bất ổn tài chính là tình trạng bất ổn trên thị trường tài chính do vấn đề về bất cân xứng thông tin làm suy giảm các chức năng quan trọng của hệ thống tài chính và từ đó tác động ngược đến nền kinh tế (Mishkin, 1997). Theo Mishkin (1997), bất ổn tài chính xảy ra khi có các cú sốc ngoại sinh tác động đến hệ thống tài chính gây cản trở dòng chảy thông tin, làm cho hệ thống tài chính không còn thực hiện chức năng phân bổ vốn đến các cơ hội đầu tư sản xuất hiệu quả.
Nếu bất ổn tài chính đủ nghiêm trọng có thể dẫn đến sụp đổ hoàn toàn các chức năng của thị trường tài chính, một tình trạng được xem là khủng hoảng tài chính. Bên cạnh tác động của cú sốc tài chính, Illing & Liu (2006) cho rằng cú sốc ngoại sinh xảy ra trong một hệ thống tài chính dễ bị tổn thương mới dẫn đến bất ổn tài chính. Hệ thống tài chính suy yếu là sự suy yếu của tình trạng tài chính hoặc (và) cấu trúc tài chính. n 13 Cú sốc tài chính có thể dẫn đến bất ổn tài chính (trường hợp cực đoan là khủng hoảng tài chính) khi tình trạng tài chính bị suy yếu, chẳng hạn như khi dòng tiền sụt giảm nhanh, bảng cân đối tài sản có đòn cân nợ tăng cao hoặc người cho vay trung lập với rủi ro.
Cú sốc có thể lan truyền nhanh khi cấu trúc tài chính bị suy yếu do những thất bại trong liên kết các hoạt động trên thị trường (market coordination), dòng thông tin bị bất cân xứng quá cao. Qui mô cú sốc và sự tương tác giữa tình trạng tài chính và cấu trúc tài chính đang bị suy yếu tác động đến mức độ bất ổn tài chính. Schinasi (2004) định nghĩa bất ổn tài chính từ gốc độ ổn định tài chính. Một hệ thống tài chính trong phạm vi ổn định khi nó có khả năng hỗ trợ hoạt động của nền kinh tế và có khả năng loại bỏ sự mất cân bằng trên thị trường tài chính do các yếu tố hình thành từ bên trong hoặc từ kết quả của những cú sốc ngược bên ngoài.
Phạm vi ổn định tài chính có tính đa chiều, nghĩa là được đánh giá dựa trên sự kết hợp đa chiều của các thành phần khác nhau trong hệ thống tài chính (bao gồm các thị trường tài chính, hạ tầng tài chính, và các tổ chức tài chính). Do vậy, một sự nhiễu loạn nào xảy ra ở một thành phần bất kỳ nào cũng làm suy yếu tính ổn định của hệ thống tài chính. Lúc đó, một hệ thống tài chính khi ở trong phạm vi bất ổn, nó có nguy cơ cản trở các hoạt động kinh tế và một khi khi nó cản trở hoạt động nền kinh tế thì có nguy cơ tiếp tục như vậy. Tương tự như Schinasi (2004) và Allen & Wood (2006) cũng định nghĩa từ ổn định tài chính và tiếp cận dưới gốc độ khoa học vật lý.
Ổn định là đặc tính của một hệ thống. Một hệ thống ổn định tại một điểm nếu nó trở lại trạng thái cân bằng từ tác động ban đầu của các nhiễu loạn. Ổn định tài chính do vậy được xem là đặc tính của hệ thống tài chính. Một hệ thống tài chính sẽ không trở nên bất ổn khi trải qua một nhiễu loạn nào đó.
Xét về mặt kinh tế, nhiễu loạn được hiểu là những sự kiện bất ngờ hay các cú sốc. Tuy nhiên khác với các định nghĩa trên, theo tác giả, phản ứng của hệ thống tài chính trước các nhiễu loạn có tính chất phi tuyến. Nó có thể làm dịu các cú sốc nhỏ nhưng với các cú sốc lớn thì có thể phóng đại các cú sốc. Từ các định nghĩa trên có thấy, bất ổn tài chính là sự phá vỡ các liên kết giữa các thành phần trong khu vực tài chính do các cú sốc hình thành từ bên trong hệ thống hoặc từ bên ngoài tác động vào một hoặc nhiều thành phần khác nhau trong hệ thống n 14 tài chính.
Phản ứng của hệ thống tài chính trước các cú sốc khác nhau tùy thuộc vào độ lớn và loại cú sốc, có thể làm tắt dần hoặc phóng đại các cú sốc. Các đặc điểm của bất ổn tài chính Không có hai giai đoạn bất ổn tài chính nào hoàn toàn giống hệt nhau nhưng theo Hakkio & Keeton (2009) nhìn chung các giai đoạn bất ổn tài chính đều liên quan ít nhất một trong năm hiện tượng sau đây, nhưng thường là hầu hết các hiện tượng này. Thứ nhất, sự không chắc chắn về giá trị thực của các tài sản tăng lên. Đối với người cho vay và nhà đầu tư, giá trị thực của tài sản là hiện giá của dòng tiền tương lai được tạo ra bởi tài sản tài chính họ cho vay hay đầu tư, gồm cổ tức và lãi.
Sự không chắn chắn này tăng lên làm cho sự biến động giá thị trường của tài sản tăng lên. Điều này có thể là do sự khó đoán định về nền kinh tế trong tương lai hay sự ra đời các sản phẩm tài chính mới khó đánh giá triển vọng phát triển của chúng. Do sự không chắc chắn này, nhà đầu tư có xu hướng phản ứng mạnh trước các thông tin mới (Pastor và cộng sự, 2008). Trước những thông tin mới, nhà đầu tư đánh giá lại mức sinh lợi của tài sản càng nhiều họ càng có xu hướng thay đổi giá bán tài sản đó trên thị trường.
Thứ hai, sự không chắc chắn về hành vi của các nhà đầu tư khác tăng lên. Đối với tài sản cần bán trước khi đến hạn, suất sinh lời kỳ vọng của nhà đầu tư đối với tài sản này phụ thuộc vào hành vi của các nhà đầu tư khác trên thị trường cũng như giá trị đến hạn của tài sản. Loại hành vi này tăng lên khi nhà đầu tư và người cho vay không chắc chắn về giá trị thực của tài sản. Do vậy, trường hợp này tương tự như sự không chắc chắn về giá trị thực.
Nhà đầu tư nhận thấy nhận định của họ trở nên không chính xác và có ít kinh nghiệm quá khứ để đánh giá. Sự không chắc chắn này làm sự biến động giá tài sản tăng lên. Khi nhà đầu tư quyết định dựa vào đánh giá quyết định của các nhà đầu tư khác, giá trị của tài sản ít bị ràng buộc vào giá trị thực. Giá tài sản biến động nhiều hơn.
Thứ ba, tình trạng bất cân xứng thông tin tăng lên. Sự cân xứng thông tin xảy ra giữa người đi vay và người cho vay hoặc người mua và người bán các tài sản tài chính.