CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYET VA TONG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THUC NGHIỆM VE CÁC NHÂN TO TÁC ĐỘNG DEN NĂNG SUÁT LAO ĐỘNG 1. Khái niệm và đo lường năng suất lao động 1. Khái niệm Trong thực tế, có nhiều thước đo năng suất khác nhau. Sự lựa chọn thước đo nào phụ thuộc vào mục đích đo lường năng suất và trong nhiều trường hợp phụ thuộc vào tính khả dụng của dit liệu.
Một điểm khác biệt, có liên quan đặc biệt ở cấp độ ngành hoặc doanh nghiệp là ngoài các thước đo năng suất liên quan đến gia tri tong sản lượng với một hoặc một số đầu vào, có thể sử dụng khái niệm giá trị gia tăng để đo lường đầu ra. Trong số các thước đo năng suất, năng suất lao động (NSLĐ) là một thước đo hữu ich, vì NSLD liên quan đến yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất và tương đối dễ tính toán. Ngoài ra, NSLĐ là yếu tố chính quyết định đến mức sông (được đo bằng thu nhập bình quân đầu người) và như vay, NSLD có thé hỗ trợ việc đưa ra những chính sách quan trọng. NSLD phản ánh năng lực cá nhân của người lao động hoặc cường độ của những nỗ lực của họ.
NSLĐ phản ánh mức độ kết hợp lao động hiệu quả với các yêu tô sản xuất khác, bao nhiêu trong số các đầu vào khác này có sẵn cho mỗi công nhân. Điều này làm cho NSLĐ là điểm khởi đầu tốt dé phân tích một số yêu tố kinh tế khác. Như đã biết, năng suất là thước đo mức độ hiệu quả do con người và các đơn vị sản xuất (doanh nghiệp) chuyển đổi nguồn lực sản xuất (ví dụ như lao động và vốn) dé tạo ra sản phẩm là hàng hóa và dịch vụ cho xã hội. Trong s6 các phương pháp đo lường năng suất như năng suất nhân tố tổng hợp hoặc năng suất vốn, thì NSLĐ là chỉ tiêu đặc biệt quan trọng trong phân tích kinh tế và thống kê của doanh nhiệp, ngành cũng như một quốc gia.
Theo OECD (2001), năng suất lao động (NSLĐ) được tính bằng lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tao ra trên một đơn vi lao động tham gia vào hoạt động sản xuất. Hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được tạo ra của nền kinh tế là tổng sản phẩm trong nước (GDP). Lao động tham gia vào hoạt động sản xuất tạo ra GDP phản ánh thời gian, công sức và kỹ năng của lực lượng lao động và thường được tính bằng lao động đang làm việc, giờ công lao động, hay lực lượng lao động được điều chỉnh theo chất lượng. Ở Việt Nam, theo Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, NSLĐ xã hội là chỉ tiêu phản ánh hiệu suất làm việc của lao động, được đo bằng GDP tính bình quân một lao động trong thời kỳ tham chiếu, thường là một năm.
NSLD xã hội được tính theo công thức sau: NSLĐ xã hội = Tổng sản phẩm trong nước (GDP)/Téng số người làm việc bình quân. NSLD thường được phân tử theo ngành kinh tế (hoặc khu vực kinh tế) và loại hình kinh tế. Nguồn số liệu tỉnh NSLĐ được lấy từ: (¡) Số liệu GDP hàng nam; (ii) Số lao động đang làm việc bình quân (số lao động có việc làm). Cả hai loại chỉ tiêu này được thu thập, tính toán theo tiêu chuẩn quốc tế, trong đó chỉ tiêu GDP được Tổng cục Thống kê áp dụng các khái niệm, nguyên tắc, nguồn thông tin và phương pháp tính theo đúng quy định trong hệ thống tài khoản quốc gia của Liên hợp quốc; chỉ tiêu lao động đang làm việc (lao động có việc làm) được tính theo khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).
NSLĐ là dạng chỉ tiêu năng suất bộ phận phản ánh năng lực tạo ra của cải, hay hiệu suất của lao động cụ thể trong quá trình sản xuất, đo bằng số sản phẩm, lượng giá tri được tạo ra trong một đơn vi thời gian trên một lao động hoặc trên giờ công lao động. NSLD là chỉ tiêu quan trọng nhất thé hiện tính chất và trình độ tiễn bộ của một tổ chức, một đơn vị sản xuất, hay của một phương thức sản xuất. NSLĐ được quyết định bởi nhiều nhân tố, như trình độ thành thạo của người lao động, trình độ phát triển khoa học và áp dụng công nghệ, sự kết hợp xã hội của quá trình sản xuất, quy mô và tính hiệu quả của các tư liệu sản xuất cũng như các điều kiện tự nhiên. NSLĐ là một trong những chỉ tiêu quan trọng tác động tới sức cạnh tranh của Ngành, Doanh nghiệp, đặc biệt, NSLD lại phản ánh yếu tố chất lượng người lao động - yếu tố cốt lõi của sự phát triển.
Cách tính năng suất lao động Công thức chung dé tính NSLĐ: NSLĐ = Đầu ra / Đầu vào lao động Đầu ra có thé tính bang Tổng giá trị sản lượng hoặc Giá trị gia tăng (hoặc GDP ở cấp độ nền kinh tế). Tuy nhiên khi sử dụng Tổng giá trị sản lượng làm đầu ra dé tính năng suất thì có sự hạn chế vì trong Tổng giá trị sản lượng bao gồm cả các chi phí trung gian, mà phan chi phí trung gian là giá trị do nhà cung cấp tạo ra, nên khi sử dụng tổng giá trị sản lượng thì không phản ánh đúng giá trị tạo ra của doanh nghiệp hoặc của ngành, kết quả phân tích sẽ không chính xác, đặc biệt đối với những ngành có chi phí trung gian chiếm tỷ trọng lớn. Vì vậy, giá trị gia tăng thường được sử dụng trong đánh giá năng suất cấp độ ngành. Mặc dù khái niệm giá tri gia tang được hình thành từ cách đây hơn hai trăm năm nhưng bắt đầu được sử dụng rộng rãi ở Mỹ vào những năm 20 của Thế kỷ 20, với vai trò là cơ sở cho hệ thống thưởng và khuyến khích người lao động.
Đến những năm 1950-1960, nhiều doanh nghiệp Châu Âu bắt đầu sử dụng khái niệm này trong đánh giá hiệu quả doanh nghiệp. Vào những năm 1970, giá trị gia tăng thực sự được sử dụng phổ biến với mục tiêu cải tiễn năng suất. Giá trị gia tăng là giá trị mới được tạo ra từ quá trình sản xuất hay cung cấp dịch vụ nhờ nỗ lực chung của mọi người trong tổ chức/doanh nghiệp gồm người lao động và những người cùng góp vốn (các nhà đầu tư và các cô đông). Giá trị gia tăng tạo ra sẽ được dùng dé trả cho những người có đóng góp vào việc tạo ra nó dưới dạng tiền lương và phụ cấp lao động, lãi suất vay vốn, cô tức và lợi nhuận.
Đầu vào lao động: có thể đo băng số lao động (ký hiệu N), hoặc số lao động quy đổi làm việc toàn thời gian (Ký hiệu FTE) được tính bằng tổng số giờ làm việc chia cho số giờ làm việc bình quân thực tế của công nhân làm việc toàn thời gian, hoặc Số giờ công lao động (ký hiệu H). Từ khía cạnh phân tích sản xuất, bỏ qua sự khác biệt về chất lượng tại các thời điểm, đầu vào lao động đo theo giờ công lao động là thích hợp nhất. Trong tính toán NSLĐ, nếu sử dụng số lao động sẽ không thé hiện được sức lao động được chuyền vào sản xuất, dẫn đến kết quả bị ảnh hưởng nhiều bởi công việc bán thời gian hoặc làm thêm giờ, sự văng mặt, thiếu việc làm., vi vậy khi tính đầu vào lao động dựa trên số giờ làm việc sẽ phản ánh tốt hơn. Vì sự đóng góp của người lao động vào quá trình sản xuât bao gôm đóng 10 góp sức lực và trí tuệ, nên một giờ làm việc của người này sẽ đóng góp khác với một giờ làm việc của người khác do sự khác biệt về kỹ năng, giáo dục, y tế và kinh nghiệm chuyên môn.
Phân biệt đầu vào lao động theo kỹ năng giúp nắm bắt được ảnh hưởng của chất lượng lao động đối với sự tăng trưởng đầu ra và tăng NSLD. Nhưng dé có được sự phân biệt này thì cần có dữ liệu và các nghiên cứu chuyên sâu. Tối thiểu phải có số liệu về giờ lao động chia nhỏ ra theo các đặc tính của lao động và thù lao theo từng đặc tính lao động. Các nhân tố tác động đến năng suất lao động 1.
Mô hình tân cỗ điển xác định năng suất lao động và các nhân tổ tác động Hàm sản xuất Q= AF( L,K) có hiệu suất không thay đổi theo quy mô nếu với mọi z>0 bat kỳ ta có zQ=AF(ZL,zK) trong đó Q là giá trị sản lượng dau ra, các đầu vào là Lao động (L), Vốn (K). Nếu đặt Z= 1/L ta sẽ có hàm năng suất lao động Q/L = AF(1, K/L). Như vậy, NSLĐ (Q/L) phụ thuộc vào cường độ vốn (K/L) và trình độ công nghệ (A). Dé làm rõ điều này, giả sử rằng hàm sản xuất có dạng.1) Trong đó K biểu thị lượng vốn, L là lao động, Y là sản lượng va A là TFP phụ thuộc vao trình độ công nghệ.
Chia hàm san xuất (1.1) cho lao động (L), ta thu được một biéu thức liên hệ NSLĐ với vốn trên mỗi công nhân: a dy = 4% =Ak", (1.2) q=Q/L biểu thi NSLĐ và k=K/L là tỷ lệ vốn trên lao độnghay cường độ vốn. Từ phương trình (1.2) cho thấy trình động công nghệ và tỷ lệ vốn trên lao động là hai yếu tố chính quyết định NSLĐ. Mô hình tổng thé các nhân tô tác động đến năng suất lao động Trong tiểu mục này chuyên đề xác định các yếu tố chính, những yếu tố là mỗi quan tâm chính khi phân tích NSLĐ. Dé hiểu rõ về NSLD và dé có thé đề xuất những chương trình cải tiến NSLĐ, việc xem xét các yếu tô tác động đến NSLD là rất cần thiết.
11 Quá trình sản xuất là một hệ thống xã hội phức tạp, thích ứng và liên tục phát triển. Các mối quan hệ giữa lao động, vốn và môi trường tổ chức - xã hội có ý nghĩa quan trọng dé có thé cân bằng và phối hợp thành một tong thể tích hợp. Việc cải tiến NSLD phụ thuộc vào cách doanh nghiệp xác định và sử dụng hiệu quả các yếu tố chính của hệ thống sản xuất. Liên quan đến van dé này, điều quan trọng là phải phân biệt ba nhóm yếu tố năng suất chính là (¡) liên quan đến công việc, (1) liên quan đến nguồn lực, (iii) liên quan đến môi trường.
Prokopenko (1987) giải thích tầm quan trọng của năng suất từ cả quan điểm vĩ mô và vi mô. Ở cấp độ vĩ mô, tăng trưởng năng suất đã được công nhận là có tác động lớn đến nhiều hiện tượng kinh tế và xã hội, bao gồm tăng trưởng kinh tế, mức sống cao hơn, cải thiện cán cân thanh toán, kiểm soát lạm phát, và thậm chí cả sỐ lượng và chất lượng giải trí.