MỞ ĐẦU Mục tiêu của chương này là giới thiệu tổng quan về khóa luận. Trong chương này, những vân đề dân tới việc hình thành nghiên cứu, mục tiêu đề ra của khóa luận sẽ được làm rõ. Cuối chương, kết cầu của khóa luận cũng sẽ được trình bày để tiện cho việc theo dõi. Lý do hình thành đề tài Thị trường chứng khoán là một thị trường quan trọng góp phần tạo ra nguồn vốn cho nền kinh tế, đồng thời trong những năm gần đây chính phủ cũng có những chính sách ưu đãi để thúc đây thị trường chứng khoán phát triển như lộ trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước: BIDV, Mobifone, Vinaphone.Những người tham gia thị trường là một phần quan trọng của nền kinh tế, và các công ty tham gia thị trường này là góp phần đóng góp cho sự phát triển kinh tế trong đó có công ty phát triển hạ tầng, sản xuất, tài chính, chăm sóc sức khỏe - y tế là một thành phần quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.
Về khía cạnh học thuật, các lý thuyết tài chính nghiên cứu về mối quan hệ giữa các yếu tô vĩ mô và tỷ suất sinh lợi chứng khoán đã xuất hiện từ những thập niên 60 ở các nước phát triển. Từ mô hình định giá chứng khoán cơ bản dựa trên chiết khấu dòng tiền tương lai về hiện tại Pạ = YE(c)/(1+k,)', cho thay su thay đối hệ thống các thành tố như dòng tiền kỳ vọng E(c,) và tỷ suất sinh lợi yêu cầu kạ, sẽ ảnh hưởng đến giá chứng khoán Pạ. Tuy nhiên, với phương pháp trên có thể thấy giá chứng khoán chỉ bị tác động bởi các yếu tố nội sinh bên trong doanh nghiệp và việc phát hiện ra những thay đôi hệ thống là quan trọng nhất. Các nghiên cứu sau cho rằng giá cô phiếu không những bị ảnh hưởng bởi các nhân tố nội sinh mà còn bị tác động bởi các nhân tố vĩ mô mang tính hệ thống.
Fama va Schwert (1977), tìm thấy có mối tương quan ngược chiều giữa lạm phát và tỷ suất sinh lợi của chứng khoán. Nghiên cứu của Chen, Roll, Ross (1986) tìm thấy biến động của các nhân tố vĩ mô như sản xuất công nghiệp, phí bù rủi ro (risk premium), lạm phát, tỷ suất sinh lợi thị trường, nhu cầu tiêu dùng và giá dầu đến tỷ suất sinh lợi của cô phiếu. Các nghiên cứu ở các thị trường đang phát triển bắt đầu xuất hiện trong những thập niên gần đây. Nghiên cứu của Kaneko và Lee (1995) sử dụng § biến vĩ mô với mô hình VAR tìm thấy cả cấu trúc kỳ hạn, phí bù rủi ro, sản xuất công nghiệp đều tác động đến giá chứng khoán ở thị trường Mỹ, ngược lại ở thị trường Nhật thì các nhân tố quốc tế lại tác động mạnh hơn.
Nghiên cứu của Ibrahim và Aziz (2003) ở Malaysia cho thấy tỷ giá hối đoái có quan hệ nghịch với tỷ suất sinh lợi của chứng khoán. Bên cạnh đó, trên khía cạnh thực nghiệm, qua 13 năm hình thành và phat triển của thị trường chứng khoán Việt Nam cho thấy tác động của các nhân tố vĩ mô đến tỷ suất sinh lợi trên thị trường ngày càng rõ nét. Trong giai đoạn 2006-2007, VN- index đã có mức tăng hơn 280% kế từ đầu năm 2006 đến khi đạt đỉnh vào tháng 3/2007 với hang loạt các ảnh hưởng tích cực khi lạm phát được duy trì mức thấp, tăng 6.6% vào cuối năm 2006 - thấp hơn so với mức tăng 8.5% trong năm 2004, lãi suất duy trì mức 8%/ năm và tỷ giá ít biến động, đồng thời dòng vốn đầu tư nước ngoài gia tăng mạnh sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Ngược lại, giai đoạn 2008 VN- Index sụt giảm hơn 70% khi kinh tế thế gidi roi vao khủng hoảng, giá hàng hóa tăng cao đây lạm phát đạt đỉnh 28.32%, lãi suất cho vay hơn 24%.
Sang giai đoạn 2009, với gói kích cầu hỗ trợ lãi suất 4% trong giai đoạn 1 tăng trưởng cung tiền M2 đạt 28.4%, lạm phát được kiềm chế khi chi tang 6.52% so với cùng kỳ 2008, đã giúp thị trường chứng khoán có mức tăng trưởng trở lại 110%. Trong giai đoạn 2010- 2011, những ảnh hưởng của khủng hoảng nợ công Châu Âu, VND giảm giá hơn 9% so với USD, lạm phát tăng trở lại trong năm 2011, hiện tượng thiếu thanh khoản ở các ngân hàng nhỏ đây lãi suất huy động có lúc lên 18%, lãi suất cho vay hơn 25%, làm cho thị trường chứng khoán sụt giảm hơn 40% trong năm 2011. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và các ảnh hưởng nền kinh tế thế giới đến Việt Nam ngày càng có tương quan sâu sắc, các chính sách tài khóa và tiền tệ của chính phủ có ảnh hưởng trực tiếp đến dòng tiền đầu tư cho thị trường chứng khoán. Do đó những nhân tố như là lãi suất, tỷ giá, lạm phát, tăng trưởng kinh tế.
được xem là các yếu tô tác động lên thị trường chứng khoán. Việc xem xét tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến giá cô phiếu hàng đầu trên thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ quyết định dòng tiền đầu tư cũng như sự phát triển của thị trường chứng khoán trong tương lai là một nhu cầu cần thiết của các nhà đầu tư tham gia thị trường lẫn các nhà hoạch định chính sách trong việc quyết định sự phát triển của thị trường trong tương lai. Đặc biệt trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang có xuất hiện nhiều vấn đề bất ổn và dòng tiền vào thị trường chứng khoán ngày càng nhạy cảm với sự thay đổi các thông tin vĩ mô như hiện nay. Do đó đề tài này kỳ vọng góp phan trong việc ra quyết định của nhà đầu tư trước những thay đổi của các yếu tố vĩ mô.
Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu là mối tương quan giữa các yếu tố vĩ mô bao gồm chỉ số sản xuất công nghiệp, chỉ số giá tiêu dùng, cung tiền, tỷ giá, lãi suất với tỷ suất sinh lợi của chứng khoán trên sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh. Phạm vỉ nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa các biến vĩ mô với tỷ suất sinh lợi của chứng khoán trên sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh- đại diện là VN-index. Phạm vi nghiên cứu: Các yếu tố kinh tế vĩ mô trong dé tài này được xác định là chỉ số sản xuất công nghiệp, chỉ số giá tiêu dùng, cung tiền M2, tỷ giá, lãi suất ảnh hưởng đến chỉ số giá chứng khoán VN-index trong khung thời gian từ tháng 1/2006 đến tháng 07/2012. Phương pháp nghiên cứu Đề tài này tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với các kỷ thuật phân tích cụ thể như sau: - — Phân tích thống kê và phân tích so sánh: dựa trên số liệu thu thập được, tác giả thống kê, phân tích và đánh giá sự tương quan giữa các biến, ngoài ra còn dùng phương pháp so sánh bằng đồ thị dé phân tích dé dang hơn.
- ___ Phân tích kinh tế lượng: dùng mô hình hồi qui tuyến tính dé phân tích mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô với biến tỷ suất sinh lợi của cô phiếu. Ý nghĩa của đề tài Kết quả nghiên cứu góp phần khẳng định lý thuyết về ảnh hưởng của các nhân tố vĩ mô đến tỷ suất sinh lợi trên thị trường chứng khoán, đồng thời góp phần giúp cho các nhà hoạch định chính sách có những quyết định phù hợp cho sự phát triển bền vững của thị trường. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng giúp các nhà đầu tư tô chức và cá nhân có chiến lược đầu tư thích hợp trong bối cảnh các yếu tố vĩ mô thay đổi. Nội dung nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu 3 nội dung sau đây: Thứ nhất là tìm hiểu mỗi quan hệ giữa biến tỷ suất sinh lợi của cô phiếu với các biến kinh tế vĩ mô, tìm hiểu sự tác động của một số nhân tố vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán của một số tác gia tai mot số nước trên thế gidi.
Thứ hai: Lựa chon va xây dựng mô hình phân tích -_ Lựa chọn mô hình hồi qui đa biến -_ Lựa chọn các biến đại diện Thứ ba: Kết quả nghiên cứu Phân tích thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua việc phân tích so sánh sự tác động của các nhân tố vĩ mô đến tỷ suất sinh lợi của cô phiếu. Mối quan hệ giữa biến kinh tế vĩ mô và tỷ suất sinh lợi cô phiếu 1. Kết cấu khóa luận - Chuong 1: mé dau - Chương 2: cơ sở lý thuyết - Chương 3: phân tích tác động của các nhân tố vĩ mô đến tỷ suất sinh lợi của chứng khoán - Chương 4: kết luận và kiến nghị Chương 2: CO SO LY THUYET Chương này sẽ trình bày các co so ly thuyết được sử dụng trong việc tiếp cận vấn đề của khóa luận, lý thuyết về mô hình định giá tài sản vốn, lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá APT. Ngoài ra, chương này cũng sẽ giới thiệu các nghiên cứu liên quan đi trước nhằm so sánh và đối chiếu các kết quả nghiên cứu với nhau để có cái nhìn tổng quan hơn về vấn đề được nghiên cứu.
Bên cạnh đó chương này còn phân tích ảnh hưởng của các yếu tổ vĩ mô đến thi trường chứng khoán. Tỷ suất sinh lợi chứng khoán Tỷ suất sinh lợi của chứng khoán được đo lường như tổng các khoản thu nhập hoặc lỗ của chủ sở hữu chứng khoán trong một thời kỳ. Các nhà đầu tư luôn mong muốn đo lường tỷ suất sinh lợi của chứng khoán mà mình quan tâm. Có nhiều phương pháp để đo lường tỷ suất sinh lợi của chứng khoán và trong phần này tác giả giới thiệu hai phương pháp là mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) và lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (APT).
Mô hình định giá tài sản vốn (Capital Asset Pricing Model) Mô hình định giá tài sản vốn CAPM (Capital Asset Price Model) là mô hình mô tả mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận. Trong mô hình này lợi nhuận của một chứng khoán bằng lãi suất phi rủi ro (risk free rate) cộng với một khoảng bù đắp rủi ro dựa trên cơ sở rủi ro hệ thống của chứng khoán đó. Còn rủi ro phi hệ thống không được xem xét trong mô hình này do nhà đầu tư có thể xây dựng danh mục đa dạng hóa để loại bỏ rủi ro này. Lý thuyết về mô hình CAPM và ứng dụng của nó dựa trên những giả định về thị trường chứng khoán và thái độ của nhà đầu tư như sau: - Các nhà đầu tư nắm giữ một danh mục đa dạng hóa hoàn toàn.