chương 1 này tác giả giới thiệu tổng quan về thực trạng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, đóng góp của việc thu hút đầu tư nước ngoài vào kinh tế trong giai đoạn 1995 -2018. Bên cạnh đó chương này giới thiệu các kết quả nghiên cứu thực nghiệm liên quan về đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế 1.1 Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) diễn ra khi một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp vào những phương tiện để sản xuất hay tiêu thụ sản phẩm ở một quốc gia khác. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản nào từ nước ngoài đi đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư để thành lập hoặc kiểm soát doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh có lãi. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF đầu tư trực tiếp nước ngoài được định nghĩa là: “Một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác.
Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó”. OECD đưa ra định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “Đầu tư trực tiếp có nghĩa là hoạt động đầu tư quốc tế của nhà đầu tư trực tiếp trong một nền kinh tế nhằm mục đích tạo ra lợi ích lâu dài dưới hình thức công ty. Lợi ích lâu dài có nghĩa ở đó bao gồm mối quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư và công ty, và nhà đầu tư có ảnh hưởng lớn tới việc quản lý công ty được đầu tư trực tiếp”. Theo Luật Đầu tư của Việt Nam,“đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” và “đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư” Trang 3 Luan van Trong ba thập kỷ qua dòng vốn vào của FDI tăng nhanh hơn sự phát triển của thương mại thế giới và sản lượng thế giới.
Trong khoảng giai đoạn 1992-2010 tổng dòng vốn FDI vào từ tất cả các nước tăng hơn gấp 9 lần trong khi giá trị của thương mại thế giới chỉ tăng gấp bốn lần và sản lượng thế giới tăng 55%. FDI phát triển nhanh hơn thương mại và sản lượng thế giới vì nhiểu lý do. Thứ nhất, mặc dù các rào cản thương mại trong vòng 30 năm qua có sự suy giảm, các doanh nghiệp kinh doanh vẫn lo ngại áp lực của chủ nghĩa bảo hộ. Lãnh đạo các doanh nghiệp xem FDI như là một cách để phá vỡ rào cản thương mại trong tương lai.
Thứ hai, phần lớn sự gia tăng FDI được thúc đẩy bởi sự thay đổi về kinh tế và chính trị xảy ra tại nhiểu nước đang phát triển trên thế giới. Xu hướng thay đổi chung từ dân chủ tập trung sang kinh tế thị trường tự do đã thúc đầy FDI. Tại nhiều nước của Châu Á, Đông Âu và Mỹ Latin, tăng trưởng kinh tế, giảm can thiệp kinh tế, các chương trình tư hữu hoá đã mở cửa cho nhà đầu tư nước ngoài, và nới lỏng hạn chế vế FDI đã khiến những đất nước này trở nên hấp dẫn hơn đối với các công ty đa quốc gia. Hầu hết các nước đang phát triển đều không có nhiều vốn để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, khả năng tích lũy vốn hạn chế.
Hơn nữa, ở các nước này, nguồn nhân lực đang bị hạn chế bởi trình độ, khoa học kỹ thuật lạc hậu. Đồng thời, các loại thị trường còn trong giai đoạn tạo lập nên các quốc gia này thường gặp phải trở ngại trong việc kết hợp các nguồn lực. Chính vì vậy để thoát khỏi tình trạng này, đầu tư nước ngoài được xem như một động lực để hỗ trợ kinh tế trong nước phát triển hơn. Tuy nhiên, vì nhiều lý do chẳng hạn như có sự khác biệt về các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội cũng như nguồn lực, nên tác động của FDI đối với sự phát triển của mỗi nước cũng khác nhau.
Chính vì vậy, tùy thuộc điều kiện của mỗi quốc gia mà mỗi quốc gia lựa chọn các yếu tố đầu tư nước ngoài phù hợp thực tế khách quan của đất nước mình (Samuelson, 2002). Trang 4 Luan van 1.2 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 1.1 Diễn biến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Theo số liệu của Tổng cục thống kê, trong giai đoạn 1995-2018 luồng vốn đầu tư FDI hàng năm vào Việt Nam diễn biến thất thường, không ổn định (Hình 1). Có thể mô tả quá trình thu hút FDI vào Việt Nam trong những năm 1995-2018 qua các giai đoạn chủ yếu sau: Từ 1995 đến 1999: Trong giai đoạn này chỉ có năm 1996 có sự gia tăng với tốc độ nhanh cả về số dự án và số vốn đăng ký mới, những năm còn lại đặc trưng bởi sự giảm sút mạnh của dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam. Nguyên nhân chủ yếu là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á và do môi trường đầu tư ở Việt Nam trở nên kém hấp dẫn hơn so với các nước trong khu vực.
Vốn FDI đăng ký mới giảm trung bình tới 24%/năm, trong khi vốn giải ngân giảm với tốc độ chậm hơn, trung bình khoảng 14%. Đvt: Triệu USD Giải ngân Đăng ký 80.1 Diễn biến dòng vốn FDI vào Việt Nam giai đoạn 1995-2018 Nguồn: Tổng cục thống kê Từ 2000 – 2008: lượng vốn FDI chảy vào Việt Nam tăng trưởng mạnh, đăng ký vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đạt mức cao kỷ lục 64 tỷ đô la trong năm 2008, cao hơn tổng số vốn tính chung từ 2000 - 2007. Điều này có thể được giải thích do kết quả của cải thiện môi trường đầu tư bằng việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư Trang 5 Luan van nước ngoài, chính sách quản lý FDI tại Việt Nam đã chặt chẽ hơn, các dòng vốn FDI ngày càng thực chất hơn, cả về số lượng và chất lượng, theo cả chiều rộng và chiều sâu. Đồng thời quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đang được đẩy mạnh, mở cửa hơn một số ngành do Nhà nước độc quyền nắm giữ trước đây như điện lực, bảo hiểm, ngân hàng, viễn thông cho đầu tư nước ngoài và cho phép chuyển đổi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang công ty cổ phần qua đó tạo thêm không gian kinh tế mới, mở ra cơ hội cho khu vực tư nhân và khu vực FDI gia tăng đầu tư kinh doanh.
Từ 2009 – 2013: năm 2009, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu nên dòng vốn FDI xu hướng có giảm xuống, năm 2009 giảm xuống còn 23,1 tỷ USD. Những năm sau này số dự án và lượng vốn FDI đăng ký sụt giảm mạnh, còn giá trị FDI thực hiện và giải ngân giảm ít hơn. Ngoại trừ năm 2013 có sự tăng đột biến gía trị vốn FDI đăng ký. Từ năm 2014-2018: ở giai đoạn này nhìn chung dòng vốn FDI tăng trở lại cả về số dự án, lượng FDI đăng ký và lượng FDI giải ngân.
Riêng giai đoạn 2017-2018 vốn FDI đăng ký giảm nhẹ. Nguyên nhân cho điều này có thể là do sự cạnh tranh từ các nền kinh tế của khu vực trong việc thu hút vốn đầu tư. Theo số liệu thống kê, lũy kế tính đến hết tháng 12/2018, cả nước có 29.893 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký 415,06 tỷ USD và tổng vốn thực hiện khoảng 191,09 tỷ USD, bằng 46,0% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực. Như vậy nhìn chung từ năm 1995-2018, dòng dòng vốn FDI vào Việt Nam có nhiều biến động nhưng tổng vốn FDI có xu hướng tăng theo thời gian.
So sánh với các quốc gia trong khu vực châu Á có thể thấy tốc độ tăng vốn đầu tư của Việt nam khá chậm, thấp hơn nhiều so với các quốc gia khác như Trung Quốc, HongKong và Ấn Độ. Trang 6 Luan van Hình 1.2 Dòng vốn FDI ở một số quốc gia châu Á Nguồn: UNCTAD Một điểm đáng lưu ý về tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đó là từ năm 2006, luồng FDI tăng đột biến làm bộc lộ khả năng hấp thụ vốn chưa cao. Khả năng hấp thụ vốn còn hạn chế ảnh hưởng rất lớn triển khai các dự án FDI. Thách thức của Việt Nam là kết cấu hạ tầng kém phát triển, nguồn nhân lực quản lý thiếu, công nghệ hỗ trợ yếu và cơ chế thực thi kém hiệu quả.
Với sự phát triển cả và lượng và chất trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, có thể thấy một lý do nổi bật đó là Việt nam đã cải thiện môi trường đầu tư để thu hút FDI. Một số chính sách nổi bật của Việt Nam : • Ban hành luật đầu tư nước ngoài 1987 và qua 4 lần sửa đổi nhằm giảm bớt thủ tục đăng ký, mở rộng lĩnh vực đầu tư, cho phép các hoạt động sáp nhập, mua lại công ty… • Ban hành luật doanh nghiệp thống nhất năm 2005 • Mở cửa nền kinh tế thông qua ký kết các hiệp định thương mại song phương và các hiệp định đa phương. • Ký hiệp định song phương về xúc tiến và bảo vệ đầu tư • Minh bạch hóa chính sách kinh tế đối với doanh nghiệp • Cải cách hành chính Trang 7 Luan van 1.2 Đầu tư FDI vào Việt Nam theo quốc gia và vùng lãnh thổ Trong tổng số quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, đứng thứ nhất là Hàn Quốc chiếm 18,36% tổng vốn đầu tư đăng ký, thứ hai là Nhật Bản chiếm 16,46% và thứ ba là Singapore chiếm 13,98%.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt nam theo quốc gia và vùng lãnh thổ Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài 1.3 Đầu tư FDI vào Việt Nam theo địa bàn đầu tư Theo số liệu Tổng cục thống kê, theo đó, theo vùng lãnh thổ, khu vực Đông Nam Bộ và khu vực Đồng bằng sông Hồng có tỷ trọng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cao nhất, Bắc Trung Bộ và Tây nguyên là hai khu vực có tỷ trọng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong tổng số doanh nghiệp có báo cáo thấp. Cụ thể Đông Nam Bộ với 11961 dự án, số vốn đăng ký lên tới 130,5 tỷ USD, chiếm 44,4%.