Phần mở đầu, Kết luận, luận văn gồm 4 chƣơng nhƣ sau : Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn của việc tham gia TPP. Phƣơng pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn. Ảnh hƣởng của TPP tới xuất khẩu dệt may của Việt Nam.
Giải pháp cho ngành dệt may khi TPP có hiệu lực. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA VIỆC THAM GIA TPP.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu.1 Các nghiên cứu xoay quanh vấn đề Hiệp định thương mại tự do và ngành dệt may Việt Nam. Tác giả Bùi Thành Nam, Khoa Quốc tế học, Đại học Khoa học xã hội nhân văn trong bài viết “Những tác động của Hiệp định thương mại tự do” trên Tạp chí Lý luận Chính trị số 9/2014 đã phân tích tác động tích cực và tiêu cực dƣới 2 góc độ : tác động kinh tế và thƣơng mại và tác động phi kinh tế.
Đây là bài viết khá đầy đủ và toàn diện về ảnh hƣởng của FTA tới một quốc gia nói chung. Tác giả Trần Thị Mai Thành trong luận văn thạc sỹ „Thực trạng và xu hướng Hiệp định Thương mại tự do (FTA) trong khu vực ASEAN”đã tóm tắt đƣợc cơ sở lý luận về Hiệp định Thƣơng mại tự do FTA, đồng thời phân tích rất chi tiết xu hƣớng đàm phán FTA của từng quốc gia trong ASEAN, trong đó có Việt Nam. Nghiên cứu đánh giá tác động của các FTA đối với Việt Nam có giá trị tham khảo rất tốt cho luận văn nhƣ “Phân tích định lượng tác động tiềm ẩn của các FTA” của David Vanzetti, Đại học Quốc gia Australia, Chuyên gia quốc tế Dự án MUTRAP; nghiên cứu này kết hợp định tính và định lƣợng trong đó phân tích định lƣợng sử dụng mô hình cẩn bằng tổng thể CGE và các mô hình phát triển riêng của nó nhƣ MIRAGE. Trong báo cáo “Việt Nam tham gia WTO và các hiệp định thƣơng mại tự do (FTA): Hàm ý đối với xuất khẩu hàng dệt may” đƣợc thực hiện theo yêu cầu của Dự án “Hỗ trợ xúc tiến thƣơng mại và phát triển xuất khẩu tại Việt Nam – VIE/61/94” của Cục Xúc tiến thƣơng mại Bộ Công thƣơng của 2 tác giả Nguyễn Anh Dƣơng và Đặng Phƣơng Dung.
Trong báo cáo đã chỉ ra đc rất nhiều vấn đề mà xuất khẩu dệt may Việt Nam đang gặp phải. Có thể kể ra. Thứ nhất, Hàm lƣợng giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu nói chung còn hạn chế. Thứ hai, doanh nghiệp khó tiếp cận vốn.
Thứ ba, chi phí sản xuất ở Việt Nam cũng chƣa đạt mức cạnh tranh cần thiết. Thứ tƣ, doanh nghiệp còn hiểu biết hạn chế về thị trƣờng nƣớc ngoài 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và các vấn đề thƣơng mại và phi thƣơng mại quốc tế. Thứ năm, bản thân các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá nói chung và hàng dệt may nói riêng cũng chƣa đƣợc thuận lợi hoá đáng kể. Thứ sáu, trong một chừng mực nhất định, chính sách thƣơng mại, đặc biệt là thuế quan của Việt Nam còn hay thay đổi và khó tiên liệu trƣớc.
Thứ bảy, các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt nam còn gặp vấn đề từ quy chế kinh tế phi thị trƣờng mà các thị trƣờng xuất khẩu chính áp đặt đối với Việt nam. Thứ tám, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu các nƣớc có xu hƣớng thực thi bảo hộ kiểu mới. Thứ chín, hạn ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc sang Hoa Kỳ và EC đƣợc dỡ bỏ từ năm 2008. Thứ mƣời, doanh nghiệp còn chƣa có nhiều kinh nghiệm trong xây dựng thƣơng hiệu và bảo vệ thƣơng hiệu của mình trên thị trƣờng nƣớc ngoài.
Thứ mƣời một, cơ cấu bảo hộ thực tế theo chuỗi giá trị hiện vẫn ít bảo hộ các sản phẩm dệt mà bảo hộ các sản phẩm may nhiều hơn. Thứ 12, rào cản về đầu tƣ đối với các doanh nghiệp trong ngành dệt may.Thứ 13, bất cập chính sách lao động và tiền lƣơng của Việt Nam. Thứ 14, các doanh nghiệp dệt may còn gặp khó khăn do chƣa tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh. Cho đến nay, TPP có thể xem là một bƣớc ngoặt đối với ngành dệt may Việt Nam thì cơ hội rất lớn kèm theo là không ít khó khăn.
Báo cáo cũng tổng kết lại một số khuyến nghị cho cơ quan làm chính sách, hiệp hội dệt may cũng nhƣ doanh nghiệp để tận dụng các cơ hội do mở cửa hội nhập mang lại. Ngoài ra có nhiều nghiên cứu định lƣợng khác đánh giá tác động của FTA đến nền kinh tế Việt Nam và khu vực. Chẳng hạn, Cassing (2011) phân tích tác động của FTA đến cấp độ ngành của Việt Nam, còn Vanzetti (2010) xem xét tác động của các FTA đến một số yếu tố chính của nền kinh tế Việt Nam nhƣ xuất nhập khẩu, thu nhập quốc dân, doanh thu thuế, việc làm và thu nhập. Năm 2011 Mutrap cũng đƣa ra đánh giá khá đầy đủ về tác động của cam kết mở cửa thị trƣờng trong các hiệp định thƣơng mại tự do đến hoạt động sản xuất, thƣơng mại của Việt Nam.
Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế và Kinh doanh số 28 (2012) từ trang 49-59 có bài viết “Phân tích chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may Việt Nam” của PGS.TS Hà Văn Hội, đây là bài viết đƣợc thực hiện trong khuôn khổ đề 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tài “Tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, kinh nghiệm của một số nƣớc châu Á và gợi ý đối với Việt Nam” với sự tài trợ của Trung tâm Hỗ trợ Nghiên cứu châu Á – Đại học Quốc gia Hà Nội. Đây là bài viết đã phân tích một cách chi tiết chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, đồng thời chỉ ra các giai đoạn cụ thể của chuỗi giá trị dệt may toàn cầu gồm các giai đoạn nhƣ sản xuất nguyên phụ liệu, kéo sợi, dệt vải, nhuộm, in vải, cắt may và phân phối sản phẩm. Bài viết cũng dựa trên cách tiếp cận từ sản phẩm đầu ra để phân tích và làm rõ chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may. Bài viết đã chỉ ra đƣợc nguyên nhân giá trị gia tăng hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam còn thấp trong chuỗi giá trị xuất khẩu mặt hàng này.
Trong báo cáo “Đánh giá tác động của quy tắc xuất xứ trong các hiệp định thƣơng mại tự do của Việt Nam của nhóm tác giả Stefano Inama, Hồ Quang Trung, Trần Bá Cƣờng và Phan Sinh thuộc dự án hộ trợ thƣơng mại đa biên Mutrap đã có một đánh giá khá toàn diện và chi tiết về tác động của quy tắc xuất xứ đới với sản phẩm cụ thể từ góc độ Việt Nam. Thông qua phân tích chi tiết từng điều khoản trong các hiệp định thƣơng mại mà Việt Nam tham gia nhƣ AFTA và Khu vực thƣơng mại tự do ASEAN – Trung Quốc, khu vực thƣơng mại tự do Úc – New Zealand – Việt Nam, EC – Việt Nam, Ấn Độ - Việt Nam, Hàn Quốc – Việt Nam, Việt Nam – Nhật Bản. Nhiều mặt hàng có liên quan đến quy tắc xuất xứ nhƣ dệt may, thuỷ sản, da giày, nông phẩm. Báo cáo đã xác định lợi ích cần đạt đƣợc khi đàm phán, nghĩa là các quy tắc xuất xứ thuận lợi cho xuất khẩu, tính ổn định và minh bạch về quy tắc xuất xứ trong FTA để tăng tính khả dụng.
Nghiên cứu cũng đề cập đến một số khía cạnh của các quy định thực hiện quy tắc xuất xứ. Các đề xuất đƣa ra nhằm cải thiện quy tắc xuất xứ trong các FTA của Việt Nam với các đối tác khác nhau. Các đề xuất này liên quan đến cách tính tỷ lệ phần trăm và quan hệ giữa các tiêu chí chung về quy tắc xuất xứ đối với sản phẩm cụ thể. Đây là một báo cáo đáng để tham khảo khi quy tắc xuất xứ đang là một trở ngại với quá trình đàm phán gia nhập TPP của Việt Nam, ảnh hƣởng rất lớn đến ngành dệt may nƣớc ta.
Công ty cổ phần chứng khoán FPT, tháng 4/2014 đã xuất bản “Báo cáo ngành dệt may” của chuyên viên phân tích Bùi Văn Tốt. Báo cáo đã nêu bật đƣợc tình 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình ngành dệt may thế giới với xu hƣớng tăng trƣởng tốt, xu hƣớng dịch chuyển gia công sang các nƣớc đang phát triển, mói liên hệ giữa giá trị giá tăng trong các khâu ngành trong chuỗi giá trị ngành dệt may. Tiếp đó là tổng quan về ngành dệt may Việt Nam, cụ thể về số lƣợng công ty, quy mô doanh nghiệp, mục tiêu phát triển ngành dệt may đến năm 2015 định hƣớng đến năm 2020. Tiếp đó, báo cáo đã nêu khá chi tiết về tình hình xuất nhập khẩu ngành dệt may Việt Nam về các chỉ số giá trị xuất khẩu chung, tỷ lệ xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nƣớc và doanh nghiệp FDI, kim ngạch xuất khẩu bình quân tháng trong giai đoạn 2005 – 2013, cơ cấu xuất khẩu vào các thị trƣờng chính cũng nhƣ chung lại hàng dệt may xuất khẩu.
Bên cạnh đó, báo cáo đã chỉ rõ nguyên liệu ngành bao gồm bông và xơ sợi lại chủ yếu đƣợc nhập khẩu. Báo cáo cũng chỉ ra vị trí các công ty Việt Nam trong chuỗi giá trị ngành dệt may chủ yếu là trong khâu thực hiện các hợp đồng gia công may mặc, đây là khâu có giá trị gia tăng thấp nhấp trong chuỗi giá trị ngành. Từ đó, tác giả đã chỉ rõ sự yếu kém và phụ thuộc vào bên ngoài của ngành dệt may Việt Nam thông qua phân tích mô hình Michael Porter với một số kết luận. Công ty chứng khoán Ngân hàng Công thƣơng và Công ty chứng khoán Bảo việt cũng đƣa ra các báo cáo về ngành dệt may Việt Nam, trong đó cũng tập trung vào phân tích những yếu kém của Việt Nam trong chuỗi giá trị dệt may của Việt Nam và đánh giá những thuận lợi và khó khăn của dệt may khi một loạt các Hiệp định thƣơng mại tự do sẽ có hiệu lực trong thời gian sắp tới.
Cả 2 báo cáo đều có đánh giá ngắn gọn về ảnh hƣởng của TPP đến dệt may.2 Các nghiên cứu xoay quanh vấn đề tác động của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đến kinh tế Việt Nam.TS Hoàng Văn Châu trong cuốn sách “Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương – TPP và vấn đề tham gia của Việt Nam” đã trình bày một cách khá đầy đủ về TPP, một số kết quả đàm phán, phân tích cơ hội thách thức của VIệt Nam khi tham gia TPP và một số giải pháp với Việt Nam khi tham gia TPP.