Tổng quan nghiên cứu
Giảm nghèo bền vững và bảo đảm an sinh xã hội luôn là trọng tâm xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Tại huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 27,52% mỗi năm với tổng sản phẩm xã hội đạt 3.644 tỷ đồng vào năm 2015. Tỷ lệ hộ nghèo tại địa phương đã giảm ấn tượng từ 2,34% năm 2012 xuống còn 1,32% năm 2015. Tuy nhiên, dưới áp lực đô thị hóa nhanh và biến đổi khí hậu, sinh kế của bộ phận người nghèo vẫn còn rất nhiều bấp bênh và dễ bị tổn thương.
Chính sách tín dụng ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách Xã hội theo Nghị định số 78/2002/NĐ-CP được xác định là công cụ tài chính cốt lõi nhằm trợ lực cho người dân vươn lên thoát nghèo. Tính đến cuối năm 2015, tổng dư nợ cho vay tại Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phú Quốc đã đạt trên 115 tỷ đồng, hỗ trợ 3.701 lượt hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng chính sách tiếp cận vốn vay. Mặc dù quy mô tín dụng mở rộng gấp 18 lần so với năm 2003, chất lượng hoạt động tín dụng tại một số địa bàn vẫn đối mặt với thách thức nợ quá hạn và khả năng hấp thụ vốn chưa đồng đều.
Nghiên cứu của học viên Nguyễn Hồng Tươi được thực hiện nhằm phân tích thực trạng hoạt động tín dụng chính sách, nhận diện nhu cầu vốn và đánh giá khoa học tác động của nguồn vốn vay ưu đãi đến thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo tại huyện Phú Quốc. Đề tài khai thác dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2013 - 2015 và dữ liệu khảo sát sơ cấp thu thập vào tháng 11 năm 2016 trên phạm vi 10 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn của huyện đảo. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng định lượng vững chắc, tạo tiền đề để các nhà hoạch định chính sách nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn vốn và thúc đẩy mục tiêu giảm nghèo bền vững tại các vùng hải đảo đặc thù.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết sinh kế bền vững do Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 1999) đề xuất kết hợp với lý thuyết vòng xoáy đói nghèo (Vicious Circle of Poverty). Khung phân tích sinh kế của DFID xác định khả năng tạo dựng thu nhập của hộ gia đình phụ thuộc vào sự tương tác giữa 5 nguồn vốn sinh kế then chốt: vốn con người (trình độ học vấn, kỹ năng lao động, sức khỏe), vốn tự nhiên (đất đai canh tác, nguồn nước), vốn vật chất (nhà ở, tư liệu sản xuất), vốn xã hội (mạng lưới quan hệ, tổ chức đoàn thể) và vốn tài chính (tiết kiệm, thu nhập tiền mặt và tiếp cận vốn tín dụng). Trong cấu trúc này, vốn tài chính đóng vai trò chất xúc tác linh hoạt nhất, giúp hộ gia đình đầu tư chuyển đổi các tài sản khác thành dòng thu nhập thực tế.
Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng quan điểm phân loại nghèo đa chiều của Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á - Thái Bình Dương (UNESCAP, 2000) bao gồm: nghèo thu nhập, nghèo tiếp cận và nghèo sức mạnh. Trong điều kiện thị trường tài chính không hoàn hảo, người nghèo thường bị loại trừ khỏi hệ thống ngân hàng thương mại do thiếu tài sản thế chấp. Tín dụng chính sách của Ngân hàng Chính sách Xã hội can thiệp như một công cụ bù đắp khoảng trống thị trường, phá vỡ vòng luẩn quẩn: thu nhập thấp dẫn đến thiếu vốn đầu tư, năng suất thấp và tiếp tục nghèo đói. Khung phân tích đánh giá tác động chính sách công của Khandker, Koolwal và Samad (2010) cũng được tích hợp để lượng hóa mức độ cải thiện thu nhập thuần túy từ nguồn vốn vay ưu đãi.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp và các kỹ thuật kinh tế lượng hiện đại. Từ tổng thể 700 hộ nghèo trên địa bàn huyện Phú Quốc năm 2015 (trong đó có 293 hộ vay vốn Ngân hàng Chính sách Xã hội năm 2013 và 407 hộ không vay vốn), tác giả áp dụng công thức xác định cỡ mẫu ngẫu nhiên xác suất với tỷ lệ tham gia p = 0,58, tỷ lệ đối chứng q = 0,42, sai số chuẩn e = 0,07 và độ tin cậy 95% (z = 1,96). Cỡ mẫu tính toán đạt 191 hộ và được nâng lên thành 200 hộ khảo sát thực tế theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện có cấu trúc, bao gồm 116 hộ thuộc nhóm tham gia vay vốn năm 2013 và 84 hộ thuộc nhóm đối chứng không vay bất kỳ nguồn vốn nào trong suốt giai đoạn 2013 - 2015.
Để giải quyết triệt để hiện tượng thiên lệch chọn mẫu và loại bỏ các yếu tố nhiễu cố định bất biến theo thời gian, tác giả áp dụng phương pháp sai biệt kép (Difference-in-Differences - DID) lồng ghép trong mô hình hồi quy bình phương bé nhất (OLS) trên phần mềm chuyên dụng Stata 12.0. Mô hình kinh tế lượng thiết lập biến phụ thuộc là thu nhập bình quân đầu người/tháng của hộ nghèo, chịu sự tác động của biến chính sách tương tác và 10 biến kiểm soát kinh tế - xã hội quan trọng như: giới tính, tuổi tác, dân tộc của chủ hộ, số năm đi học bình quân, quy mô hộ, tỷ lệ phụ thuộc, tình trạng vay phi chính thức, cú sốc kinh tế - y tế và nghề nghiệp chính. Các kiểm định phương sai sai số thay đổi và đa cộng tuyến được thực hiện nghiêm ngặt để đảm bảo tính vững chắc của các ước lượng.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Kết quả ước lượng mô hình hồi quy đa biến OLS kết hợp DID cho thấy có 7 trong tổng số 10 biến độc lập đạt mức ý nghĩa thống kê, phản ánh tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo tại huyện Phú Quốc:
Thứ nhất, biến tương tác chính sách tiếp cận tín dụng mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê cao. Các hộ nghèo tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội ghi nhận mức tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người hàng tháng vượt trội so với nhóm đối chứng không vay vốn sau 2 năm can thiệp chính sách. Nguồn vốn vay đã trực tiếp giải quyết cơn khát vốn lưu động, tạo điều kiện mở rộng sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nhỏ.
Thứ hai, trình độ học vấn của các thành viên trong gia đình đóng góp tích cực vào tăng trưởng thu nhập. Mỗi năm đi học bình quân tăng thêm của thành viên hộ gia đình giúp cải thiện đáng kể năng lực tìm kiếm việc làm và tối ưu hóa việc phân bổ nguồn lực tài chính.
Thứ ba, yếu tố nhân khẩu học và các rủi ro ngoại cảnh tạo áp lực tiêu cực lên thu nhập hộ nghèo. Cụ thể, quy mô hộ gia đình càng đông và tỷ lệ người phụ thuộc (trẻ em, người cao tuổi không có khả năng lao động) càng cao thì thu nhập bình quân đầu người càng giảm sút rõ rệt. Đặc biệt, biến cú sốc kinh tế và biến cố y tế mang hệ số âm có ý nghĩa thống kê lớn, chứng minh rằng các đợt ốm đau nặng hoặc thiên tai dịch bệnh làm suy kiệt nhanh chóng nguồn tài chính tích lũy của nông hộ.
Thứ tư, nhóm chủ hộ người dân tộc thiểu số và lao động làm thuê giản đơn có mức thu nhập bình quân thấp hơn đáng kể so với nhóm kinh doanh dịch vụ hoặc chủ hộ người Kinh, Hoa. Trong khi đó, các biến số về tuổi tác của chủ hộ, giới tính của chủ hộ và việc tiếp cận vay mượn phi chính thức chưa cho thấy tác động có ý nghĩa thống kê đến thu nhập bình quân trong mô hình nghiên cứu.
Thảo luận kết quả
Phát hiện về tác động tích cực của tín dụng chính sách đối với thu nhập hộ nghèo tại Phú Quốc hoàn toàn nhất quán với kết luận của Đinh Phi Hổ và Đông Đức (2014) khi khẳng định tín dụng chính thức giúp nâng mức thu nhập bình quân nông hộ thêm 9,5%, đồng thời tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Văn Châu (2009) tại huyện Vị Xuyên với mức tăng 1,0 triệu đồng/người/năm. Nguồn vốn ưu đãi đã đóng vai trò là "chiếc phao cứu sinh", giúp hộ nghèo thoát khỏi bẫy thanh khoản và tránh xa các hình thức tín dụng đen với lãi suất cắt cổ.
Tuy nhiên, số liệu thực tế cũng chỉ ra những nút thắt lớn cần giải quyết. Dư nợ bình quân trên mỗi hộ vay tại địa phương chỉ đạt khoảng 13,8 triệu đồng vào năm 2015. Hạn mức này còn tương đối thấp so với chi phí đầu tư tư liệu sản xuất và chuyển đổi cơ cấu ngành nghề tại một thị trường du lịch có mức sinh hoạt đắt đỏ như Phú Quốc. Bên cạnh đó, việc biến vay phi chính thức không mang lại hiệu quả cải thiện thu nhập phản ánh thực tế rằng các khoản vay lãi cao từ thị trường tự do chủ yếu bị người nghèo dùng vào mục đích tiêu dùng cấp bách thay vì tái đầu tư sinh lời.
Hệ thống quản lý ủy thác qua 4 tổ chức chính trị - xã hội (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh) cùng 209 tổ Tiết kiệm và Vay vốn tại 10 điểm giao dịch xã, thị trấn đã duy trì tỷ lệ nợ quá hạn ở mức an toàn 0,68% (tương đương 782 triệu đồng) và nợ khoanh 0,26% (300 triệu đồng). Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua bảng so sánh sai biệt kép giữa hai nhóm khảo sát và biểu đồ cơ cấu nghề nghiệp để làm nổi bật sự dịch chuyển tích cực của các hộ sau khi được tiếp cận dòng vốn ưu đãi.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm tối ưu hóa hiệu quả kinh tế - xã hội của chính sách tín dụng ưu đãi và thúc đẩy hộ nghèo thoát nghèo bền vững tại huyện Phú Quốc, tác giả đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp trọng tâm:
-
Nâng hạn mức vay và mở rộng thời hạn tín dụng: Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam và chi nhánh tỉnh Kiên Giang cần xem xét nâng mức cho vay bình quân từ mức 13,8 triệu đồng/hộ lên mức 30 - 50 triệu đồng/hộ trong giai đoạn 2018 - 2020. Việc điều chỉnh này phải tương thích với giá cả thị trường và chi phí đầu tư mô hình sinh kế du lịch cộng đồng, đánh bắt thủy sản hoặc dịch vụ thương mại tại huyện đảo.
-
Bổ sung nguồn vốn ủy thác từ ngân sách địa phương: Ủy ban nhân dân huyện Phú Quốc và Hội đồng nhân dân tỉnh Kiên Giang cần chủ động trích lập tối thiểu 10% - 15% nguồn tăng thu ngân sách hàng năm để ủy thác sang Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện. Động thái này giúp bổ sung nguồn vốn cho vay kịp thời cho 100% đối tượng hộ nghèo và hộ cận nghèo đủ điều kiện sản xuất kinh doanh.
-
Nâng cao chất lượng ủy thác và quản trị rủi ro nợ vay: Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện cần phối hợp chặt chẽ với 4 tổ chức hội đoàn thể nhận ủy thác để củng cố hoạt động của 209 tổ Tiết kiệm và Vay vốn. Thực hiện nghiêm túc quy trình bình xét công khai tại 10 điểm giao dịch xã, phấn đấu kéo giảm tỷ lệ nợ quá hạn từ 0,68% xuống dưới mức 0,5% vào năm 2020, đồng thời giải quyết dứt điểm tình trạng hộ vay bỏ đi khỏi nơi cư trú.
-
Gắn kết tín dụng chính sách với đào tạo nghề và chuyển giao kỹ thuật: Chính quyền các xã, thị trấn cần định kỳ tổ chức tối thiểu 2 khóa tập huấn kỹ năng quản lý tài chính gia đình và kỹ thuật canh tác nông nghiệp công nghệ cao mỗi năm cho các hộ vay vốn. Sự kết hợp giữa cấp vốn và hướng dẫn phương thức làm ăn giúp hộ nghèo gia tăng khả năng chống chịu trước các cú sốc kinh tế và biến đổi khí hậu.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn sâu sắc, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng chính:
-
Cơ quan quản lý Nhà nước và chính quyền địa phương: Các cán bộ hoạch định chính sách tại Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Kiên Giang có thể sử dụng kết quả định lượng để đánh giá hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo theo Nghị định 78/2002/NĐ-CP, từ đó xây dựng kế hoạch phân bổ vốn ủy thác ngân sách hiệu quả.
-
Hệ thống Ngân hàng Chính sách Xã hội và tổ chức đoàn thể: Ban Giám đốc và cán bộ tín dụng tại các chi nhánh ngân hàng chính sách, cùng cán bộ 4 tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác, có thể tham khảo mô hình quản trị 209 tổ Tiết kiệm và Vay vốn nhằm kiểm soát tỷ lệ nợ quá hạn dưới 1% và tối ưu hóa quy trình giải ngân.
-
Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế: Tài liệu cung cấp một case study mẫu mực về việc ứng dụng phương pháp sai biệt kép (DID) kết hợp hồi quy OLS trên bộ dữ liệu khảo sát 200 hộ nghèo bằng phần mềm Stata, phục vụ đắc lực cho việc giảng dạy và thực hiện luận văn ngành Quản lý kinh tế.
-
Các tổ chức phi chính phủ và định chế phát triển: Các chuyên gia thuộc các tổ chức quốc tế (như UNDP, Ngân hàng Thế giới) đang triển khai các dự án tài chính vi mô có thể tham khảo khung lý thuyết 5 nguồn vốn sinh kế để thiết kế các chương trình cứu trợ và sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng ven biển, hải đảo.
Câu hỏi thường gặp
Phương pháp sai biệt kép (DID) mang lại ưu thế gì trong đánh giá tác động tín dụng?
Phương pháp sai biệt kép cho phép so sánh sự thay đổi thu nhập của nhóm 116 hộ vay vốn với nhóm 84 hộ đối chứng giữa 2 thời điểm 2013 và 2015. Kỹ thuật này giúp loại trừ triệt để các tác động cố định không quan sát được theo thời gian, đảm bảo kết quả phản ánh chính xác tác động thuần túy của chính sách tín dụng ưu đãi.
Tín dụng chính sách đã tác động như thế nào đến thu nhập của hộ nghèo Phú Quốc?
Mô hình kinh tế lượng chỉ ra rằng việc tiếp cận vốn vay từ Ngân hàng Chính sách Xã hội có mối tương quan dương có ý nghĩa thống kê ở mức cao với thu nhập bình quân đầu người. Nguồn vốn ưu đãi đã trực tiếp tạo việc làm mới cho 102 lao động và hỗ trợ xây dựng 4.105 công trình nước sạch, góp phần kéo giảm tỷ lệ nghèo toàn huyện xuống 1,32%.
Những nhân tố nào khác ngoài vốn vay ảnh hưởng mạnh nhất đến thu nhập hộ nghèo?
Kết quả kiểm định xác nhận có 7 yếu tố ảnh hưởng lớn đến thu nhập hộ nghèo, bao gồm: việc tiếp cận vốn tín dụng chính sách, số năm đi học bình quân của thành viên gia đình, quy mô hộ, dân tộc chủ hộ, tỷ lệ phụ thuộc, tình trạng gặp cú sốc kinh tế - y tế và nghề nghiệp chính của chủ hộ.
Vì sao biến vay vốn phi chính thức không mang lại hiệu quả cải thiện thu nhập?
Trong thực tế khảo sát tại 2 thị trấn và các xã huyện Phú Quốc, các khoản vay từ thị trường phi chính thức thường có lãi suất rất cao và thời hạn ngắn. Hộ nghèo chủ yếu dùng khoản tiền này để chi trả viện phí hoặc tiêu dùng sinh hoạt đột xuất trong lúc khó khăn, không thể tạo ra nguồn thu nhập gia tăng để trang trải nợ gốc và lãi.
Hạn mức cho vay của Ngân hàng Chính sách Xã hội tại địa bàn cần điều chỉnh ra sao?
Năm 2015, mức dư nợ bình quân của hộ nghèo tại huyện đảo chỉ đạt 13,8 triệu đồng/hộ, chưa đáp ứng đủ nhu cầu vốn thực tế trước chi phí đắt đỏ của vùng du lịch. Nghiên cứu khuyến nghị cần nâng hạn mức cho vay lên tối thiểu 30 - 50 triệu đồng/hộ trong giai đoạn 2018 - 2020 nhằm hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp hiệu quả.
Kết luận
- Khẳng định vai trò xung kích: Tín dụng ưu đãi của Ngân hàng Chính sách Xã hội là đòn bẩy tài chính quan trọng giúp hộ nghèo tại huyện đảo Phú Quốc gia tăng thu nhập và cải thiện sinh kế bền vững.
- Bằng chứng khoa học tin cậy: Nghiên cứu đã chứng minh bằng mô hình kinh tế lượng DID kết hợp OLS trên mẫu 200 hộ rằng tiếp cận tín dụng cùng 6 yếu tố nhân khẩu - xã hội có tác động trực tiếp đến thu nhập hộ nghèo.
- Nhận diện đúng điểm nghẽn: Chỉ rõ thực trạng hạn mức cho vay bình quân 13,8 triệu đồng/hộ còn thấp và tỷ lệ nợ quá hạn 0,68% cần tiếp tục được kiểm soát chặt chẽ thông qua mạng lưới 209 tổ Tiết kiệm và Vay vốn.
- Hàm ý chính sách toàn diện: Đưa ra 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ việc tăng vốn ngân sách ủy thác địa phương, nâng hạn mức tín dụng đến liên kết đào tạo nghề chuyển đổi sinh kế cho giai đoạn 2018 - 2025.
- Định hướng nghiên cứu tiếp theo: Đề xuất mở rộng phân tích bằng dữ liệu bảng dài hạn trên toàn tỉnh Kiên Giang nhằm đánh giá toàn diện tác động đa chiều của chính sách tài chính vi mô đối với cộng đồng cư dân vùng biển đảo.
Quý độc giả, nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý quan tâm có thể khai thác toàn văn luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế của tác giả Nguyễn Hồng Tươi để ứng dụng phương pháp luận và các hàm ý thực tiễn vào công tác giảm nghèo tại địa phương.