Đặt vấn đề; Mục tiêu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; Kết cấu của luận văn. Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước: Trình bày các khái niệm về nghèo; Lý thuyết về các yếu tố liên quan đến nghèo; Các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan; Mô hình lý thuyết nghiên cứu về tác động tín dụng đối với hộ nghèo ở nông thôn Chương 3. Thực trạng tín dụng đối với hộ nghèo tại NHCSXH chi nhánh Long An và Phương pháp nghiên cứu: Thực trạng tín dụng của hộ nghèo tại NHCSXH; Trình bày phương pháp nghiên cứu; Mô hình Binary Logistic xác định tác động của tiếp cận tín dụng của NHCSXH chi nhánh Long An và các yếu tố khác ảnh hưởng đến thoát nghèo của hộ nghèo ở nông thôn trên địa bàn huyện Đức Huệ. Kết quả nghiên cứu: Mô tả dữ liệu và phân tích tác động của tín dụng đối với hộ nghèo ở nông thôn tại NHCSXH chi nhánh Long An đối với thoát nghèo trên địa bàn huyện Đức Huệ.
Kết luận và Hàm ý chính sách: tổng kết lại kết quả nghiên cứu và từ kết quả này nêu ra một số các hàm ý chính sách nhằm tăng khả năng thoát nghèo cho các hộ nghèo ở nông thôn. Hạn chế của đề tài và gợi ý nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Tổng quan lý thuyết 2.
Khái niệm về nghèo Nghèo là một khái niệm chưa có một định nghĩa cụ thể, chính xác và chung nhất. Tùy theo mỗi quan điểm nghiên cứu của từng quốc gia mà có những định nghĩa và tiêu chuẩn về nghèo khác nhau. Mỗi tổ chức có cách xác định nghèo dựa trên các tiêu chí về thu nhập, mức sống và nhu cầu tham gia quá trình phát triển của xã hội,… Nhìn chung thì nghèo thường được hiểu như một người có mức thu nhập hoặc chi tiêu không đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của cuộc sống và bị hạn chế trong việc tham gia các hoạt động của xã hội. Một số quan điểm về nghèo: “Khái niệm nghèo được biến đổi theo thời gian.
Trước đây, nghèo vẫn được xem là chỉ liên quan đến thu nhập, ngày nay nó được nhìn nhận như một khái niệm đa cấp bắt nguồn và gắn chặt với chính trị, địa lý, lịch sử, văn hóa và các đặc điểm xã hội. Ở những nước đang phát triển, nghèo rất phổ biến và được biểu hiện ở những vấn đề như đói, thiếu đất và nguồn sinh kế, chính sách tái phân bổ không hiệu quả, thất nghiệp, mù chữ, dịch bệnh, thiếu dịch vụ y tế và nước sạch an toàn. Ở những nước phát triển, nghèo được thể hiện dưới dạng loại trừ khỏi xã hội, thất nghiệp gia tăng và lương thấp” (Benedek, 2006). Hội nghị về chống nghèo đói khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do Ủy ban Kinh tế Xã hội Châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào 9/2003 đã đưa ra định nghĩa về nghèo như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương” (Phùng Đức Tùng, 2000; Nguyễn Thị Hoa, 2009; Giang Thanh Long, 2009).
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội được tổ chức tại Copenhaghen, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra khái niệm về nghèo: “ Người nghèo là 7 tất cả những ai có thu nhập bình quân đầu người dưới một đô la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại.” Nhà kinh tế học người Mỹ Galbraith cho rằng: Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng. Khi họ không có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mức. Trong Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004, Ngân hàng Thế Giới cho rằng: “Nghèo là tình trạng thiếu thốn nhiều phương tiện, thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo ra thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn, dễ bị tổn thương trước những hoàn cảnh bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu đến những người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định,…” Theo Abapia Sen, chuyên gia thuộc Tổ chức lao động Quốc tế, cho rằng “Nghèo là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng”. Còn nhóm nghiên cứu của Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc, Quỹ hoạt động dân số Liên Hiệp Quốc, Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc trong công trình “XĐGN ở Việt Nam -1995” đã đưa ra định nghĩa: “Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế.” Liên Hiệp Quốc đã định nghĩa nghèo như sau: Đặc trưng bởi tình trạng thiếu thốn nghiêm trọng các nhu cầu cơ bản của con người, bao gồm thực phẩm, nước uống an toàn, công trình vệ sinh, y tế, chỗ ở, giáo dục và thông tin.
Nó phụ thuộc không chỉ vào thu nhập mà còn tiếp cận với các dịch vụ” (Liên Hiệp Quốc, 1995). Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống. Tình trạng con người ăn không đủ no, không đủ năng lượng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày do đó không đủ sức để lao động và tái sản xuất sức lao động (Nguyễn Thị Hoa, 2009). Tóm lại, các quan niệm về nghèo đói nêu trên phản ảnh 3 khía cạnh: Thứ nhất, không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu cho con người.
Thứ hai, có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư. Thứ ba, thiếu cơ hội lựa chọn, tham gia trong quá trình phát triển cộng đồng. 8 Một cách hiểu khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo. Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia.
Chuẩn nghèo - Tính đến nay trên thế giới có hai phương pháp cơ bản để xác định chuẩn nghèo, đó là phương pháp dựa trên nhu cầu chi tiêu của con người để bảo đảm mức sống tối thiểu của một con người và phương pháp dựa vào thu nhập để bảo đảm mức sống tối thiểu. Tuy nhiên, chuẩn nghèo không phải là một đại lượng cố định mà nó luôn biến động theo thời gian và không gian, tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng quốc gia. Từ năm 1985, Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 USD/ngày/người để thỏa mãn nhu cầu sống tối thiểu như là chuẩn tổng quát cho nghèo đói toàn cầu (WB, 2004). Mỗi quốc gia cũng xác định mức thu nhập tối thiểu riêng của nước mình dựa vào điều kiện cụ thể về kinh tế của từng giai đoạn phát triển nhất định, do đó mức thu nhập tối thiểu được thay đổi và nâng dần lên.
- Theo báo cáo về tình hình nghèo đói của Ngân hàng thế giới, với chuẩn nghèo trên, số người sống dưới mức nghèo khổ trên thế giới đã giảm rõ rệt trong vòng 15 năm qua (1981 – 2005), song tốc độ giảm nghèo vẫn chậm và số người nghèo vẫn còn rất lớn. Đến năm 2008, Ngân hàng thế giới đã nâng từ 1USD/người/ngày lên 1,25 USD/người/ngày theo chỉ số giá cả năm 2005. Theo tiêu chuẩn này, số người nghèo trên thế giới đã giảm từ 1,9 tỷ người xuống còn 1,4 tỷ người trong vòng ¼ thế kỷ. Chuẩn nghèo mới duy trì cùng một tiêu chuẩn nghèo tuyệt đối điển hình của các nước nghèo nhất trên thế giới, những cập nhật sử dụng mới nhất thông tin về chi phí sinh hoạt ở các nước đang phát triển.
- Tuy nhiên, hầu hết những người đã thoát khỏi đói nghèo vẫn còn rất nghèo theo các tiêu chuẩn của nền kinh tế có thu nhập trung bình. Chuẩn nghèo trung bình cho các nước đang phát triển trong năm 2005 là 2,00 USD/người/ngày (WB, 2008). Các nước Châu Âu là 4,00 USD/người/ngày, các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/người/ngày (Báo cáo Chính phủ và chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010, 2005). 9 - Ở Việt Nam, tiêu chí xác định hộ nghèo để được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước dành cho người nghèo phải căn cứ vào chuẩn nghèo mà Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành trong từng giai đoạn.
Cứ năm năm một lần Chính phủ lại ban hành chuẩn nghèo thu nhập mới để tiến hành tổng rà soát hộ nghèo trên toàn quốc, làm căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội phù hợp với mức sống dân cư và diễn biến giá cả trong từng thời kỳ. Theo quy định mỗi tỉnh, thành phố có thể đề ra chuẩn nghèo thu nhập riêng của mình căn cứ vào mức sống dân cư ở từng địa phương, miễn là không thấp hơn chuẩn nghèo thu nhập chung của Chính phủ. * Giai đoạn 2001-2005: Giai đoạn này chuẩn hộ nghèo được xác định theo Quyết định số 143/2000/QĐ – BLĐTBXH ngày 1/11/2000 như sau: + Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/tháng, tương đương 960. + Vùng nông thôn cho đồng bằng: 100.000 đồng/tháng hay 1.
+ Vùng thành thị: 150.000 đồng/tháng hay 1. Những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người dưới mức quy định trên được xác định là hộ nghèo. * Giai đoạn 2006 – 2010: Giai đoạn này chuẩn nghèo được xác định theo Quyết định 170/2005/QĐ– TTg ngày 8/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ như sau: + Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/tháng (2.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. + Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/tháng (3.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
* Giai đoạn từ năm 2011-2015: Chuẩn nghèo được áp dụng theo Quyết định 09/2011/QĐ-TTg ngày 1/1/2011 của Thủ tướng Chính phủ: 10 + Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/tháng (4.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo. + Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/tháng (6.