CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về cây ăn quả có múi tại Việt Nam 1. Phân bố và hiện trạng canh tác cây ăn quả có múi tại Việt Nam Cây có múi (cam, quýt, bưởi, chanh) thuộc nhóm cây ăn quả rất phù hợp phát triển trong điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng của Việt Nam, là cây ăn quả phổ biến, có mặt trong sản xuất tại khắp các vùng, địa phương trong cả nước.
Sản phẩm quả thu hoạch giàu chất dinh dưỡng rất có lợi cho sức khỏe và có giá trị kinh tế cao phục vụ nhiều mục đích sử dụng cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và hóa dược. Đặc điểm chung là loài cây thân gỗ, cao 3 - 4 m, chu kỳ sống từ 15 đến 20 - 30 năm; nhu cầu sinh thái của cây trong khoảng nhiệt độ 13 - 38°C, lượng mưa 1.500 mm/năm, độ ẩm không khí 70 - 80%, cường độ ánh sáng 10. Hiện nay, tổng diện tích cây ăn quả có múi trên cả nước là 235. Trong đó, diện tích trồng cây có múi ở các tỉnh phía Bắc là 106.125 ha, các tỉnh Bắc Trung Bộ là 29.630 ha, các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên là 7.761 ha và các tỉnh phía Nam là 91.
Cây ăn quả có múi hiện là nhóm cây ăn quả có diện tích lớn nhất, chiếm 24% tổng diện tích cây ăn quả cả nước; Trong đó cam chiếm tỷ trọng lớn nhất (41% diện tích), tiếp theo là bưởi (33%), chanh (16%) và quýt (10%). 3% 13% Các tỉnh phía Bắc 45% Các tỉnh phía Nam Bắc trung Bộ 39% Duyên hải Nam Trung Bộ Hình 1.1 Phân vùng trồng cây có múi ở Việt Nam (Nguồn: Cục trồng trọt, 2021) Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2021), diện tích đất trồng cây ăn quả ở Việt Nam đã tăng mạnh trong suốt hơn hai thập kỷ qua, với diện tích Đào Thị Trang – K28 Khoa học môi trường 3 Luận văn tốt nghiệp Đại học Khoa học Tự nhiên khoảng 1,18 triệu ha, tăng 45 nghìn ha (3,5%). Diện tích tăng chủ yếu tập trung ở nhóm cây có múi (cam, quýt, bưởi) với diện tích 263,8 nghìn ha, tăng 6,8 nghìn ha, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2020. Tiếp đó, tập trung chỉ đạo và định hướng sản xuất tăng diện tích cây ăn quả lên 1,19 triệu ha.
Kết quả này đã mang lại doanh thu nhiều nghìn tỷ đồng cho ngành trồng trọt, góp phần cải thiện sinh kế và thay đổi diện mạo kinh tế xã hội của các địa phương trên cả nước. Hiện trạng canh tác cam tại Việt Nam và khu vực nghiên cứu 1. Hiện trạng canh tác cam tại Việt Nam Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2021), tổng diện tích cây cam cả nước năm 2020 đạt 96,5 nghìn ha, với sản lượng 1,16 triệu tấn; năm 2021 đạt 98,4 nghìn ha, sản lượng đạt 1,52 triệu tấn, tăng 360 nghìn tấn (31%) so với năm 2020. Dự thảo đề án phát triển một số cây ăn quả chủ lực toàn quốc đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 của Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đưa ra bản kế hoạch dự kiến phát triển cụ thể theo các vùng như sau: Đồng bằng sông Hồng: Đến năm 2025 diện tích cam của vùng dự kiến đạt 4,5 nghìn ha, diện tích cho sản phẩm 3,9 nghìn ha, năng suất trung bình kỳ vọng là 146 tạ/ha và sản lượng dự kiến đạt 56,6 nghìn tấn; Kế hoạch đến năm 2030 ổn định diện tích 4,7 nghìn ha, diện tích cho sản phẩm 3,9 nghìn ha, năng suất trung bình 153 tạ/ha, sản lượng dự kiến 60,3 nghìn tấn.
Trung du miền núi phía Bắc: Diện tích cam của vùng đến năm 2025 dự kiến đạt 33,1 nghìn ha, năng suất bình quân đạt 149 tạ/ha, sản lượng đạt 305,8 nghìn tấn; Đến năm 2030 diện tích dự kiến 33,6 nghìn ha, diện tích cho sản phẩm 21,9 ha, năng suất trung bình 160 tạ/ha, sản lượng 351,5 nghìn tấn. Bắc Trung Bộ: Diện tích cam của vùng dự kiến đạt 12,7 nghìn ha vào năm 2025, diện tích cho sản phẩm 7,87 nghìn ha; Đến năm 2030 diện tích diện cam của vùng theo dự kiến đạt 13,1 nghìn ha, diện tích cho sản phẩm 9,5 nghìn ha, sản lượng dự kiến 154,9 nghìn tấn. Diện tích trồng cam miền Bắc hiện có khoảng 53,1 nghìn ha, sản lượng 394,6 nghìn ha, chiếm 13,5% tổng diện tích cây ăn quả toàn miền, bằng 54,5% diện tích và 47% sản lượng cam cả nước; năng suất ước đạt 13,1 tấn/ha, bằng 96,4% so với năng suất cam bình quân cả nước, bằng 93,2% so với năng suất cam bình quân tại các tỉnh miền Nam. Tại miền Bắc, diện tích canh tác cây cam chủ yếu tập trung tại các tỉnh Trung Đào Thị Trang – K28 Khoa học môi trường 4 Luận văn tốt nghiệp Đại học Khoa học Tự nhiên du miền núi phía Bắc, chiếm 66% tổng diện tích cây cam toàn miền, tiếp đến là Bắc Trung bộ với 25% và Đồng bằng Sông Hồng chiếm 9%.
9% Trung du miền núi phía Bắc 25% Bắc trung bộ 66% Đồng bằng Sông Hồng Hình 1. Phân bố canh tác cam theo vùng tại phía Bắc Việt Nam (Nguồn: Cục trồng trọt, 2021) Cho đến nay, tại nhiều địa phương của miền Bắc đã hình thành các vùng sản xuất cây có múi hàng hóa quy mô lớn, ví dụ như: - Vùng Trung du miền núi phía Bắc: cam Hòa Bình (huyện Cao Phong), Hà Giang (huyện Bắc Quang, Quang Bình, Vị Xuyên), Tuyên Quang (huyện Hàm Yên), Bắc Giang (huyện Lục Ngạn)…; - Vùng Bắc Trung Bộ: cam Nghệ An (huyện Quỳ Hợp, Thanh Chương, Nghĩa Đàn, Yên Thành, Con Cuông), Hà Tĩnh (huyện Vũ Quang, Hương Sơn, Hương Khê, Can Lộc, Kỳ Anh).; - Vùng Đồng bằng sông Hồng: cam Hưng Yên (huyện Khoái Châu, Kim Động, TP Hưng Yên, Văn Lâm… 1. Hiện trạng canh tác cam tại khu vực nghiên cứu Hòa Bình là một trong những tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam được thiên nhiên ban tặng cho điều kiện khí hậu thủy văn và địa chất thổ nhưỡng rất thuận lợi cho sự phát triển của nhóm cây ăn quả có múi - có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa động lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều; nhiệt độ trung bình hàng năm trên 23ºC. Với những điều kiện thuận lợi đó, Hòa Bình đã trở thành vùng sản xuất cây có múi nổi tiếng với diện tích lớn, chiếm 5% tổng diện tích toàn quốc, góp phần lớn vào vị thế là khu vực có diện tích canh tác cây cam nói riêng và cây ăn quả có múi nói chung của TDMNPB.
Theo xu thế Đào Thị Trang – K28 Khoa học môi trường 5 Luận văn tốt nghiệp Đại học Khoa học Tự nhiên tăng diện tích chung trong cả nước, diện tích nhóm cây có múi ở tỉnh Hòa Bình đã tăng mạnh trong những năm qua. 3500 3000 2020 2021 2500 Diện tích (ha) 2000 1500 1000 500 0 TP Hòa Đà Bắc Lương Kim Bôi Cao Tân Mai Lạc Yên Lạc Bình Sơn Phong Lạc Châu Sơn Thủy Thủy Hình 1. Phân bố diện tích cây có múi ở tỉnh Hòa Bình (2021-2022) (Nguồn: Chi cục trồng trọt và BVTV tỉnh Hòa Bình, 2021) Tính đến năm 2020, tổng diện tích cây có múi các loại đạt khoảng 11.500 ha, trong đó diện tích trồng ở các địa phương tăng mạnh nhất là huyện Cao Phong, tăng từ 178 ha năm 2004 lên đạt đỉnh là 3.015 ha năm 2018 và luôn là khu vực dẫn đầu toàn tỉnh về diện tích canh tác cam, đã được cấp chỉ dẫn địa lý “Cao Phong” cho sản phẩm cam quả năm 2014. Diện tích cây cam chia theo huyện, thành phố của tỉnh Hòa Bình năm 2020 -2021 2020 2021 Đơn vị DT DT trồng DT cho DT DT trồng DT cho hiện có mới sản phẩm hiện có mới sản phẩm Toàn tỉnh 4.758,8 TP Hòa 54,6 0,2 48,2 53,8 0 52,4 Bình Đà Bắc 18,5 0,7 17,8 18,6 0,1 17,8 Lương Sơn 315,1 30,5 250,9 302,6 20,7 256,5 Đào Thị Trang – K28 Khoa học môi trường 6 Luận văn tốt nghiệp Đại học Khoa học Tự nhiên Kim Bôi 536,5 33,1 417,2 474,1 5,8 401,4 Cao Phong 2.814,5 Tân Lạc 259,6 1,5 211,2 259,7 0 227,6 Mai Châu 23,4 2,6 18,0 26,4 3,0 18,3 Lạc Sơn 367,1 10,4 252,7 356,5 0 328,5 Yên Thủy 82,8 5,6 61,9 81,1 1,3 67,6 Lạc Thủy 737,4 18,1 498,2 735,8 19 574,2 (Nguồn: Chi cục trồng trọt và BVTV tỉnh Hòa Bình, 2021) Sự sụt giảm mạnh về diện tích canh tác cam tại Cao Phong trong những năm gần đây đã đặt ra những thách thức lớn cho thương hiệu cam Cao Phong, cũng như sinh kế của chính những hộ dân khu vực này.
Điều này cũng là vấn đề cấp bách đòi hỏi các nhà khoa học, nhà quản lý cần nghiên cứu nhằm luận giải một cách khoa học các hiện trạng cũng như đưa ra những giải pháp giải quyết vấn đề, tháo gỡ khó khăn và đưa ra phương hướng canh tác bền vững. Bệnh hại trên cây cam 1. Bệnh hại phổ biến trên cây cam tại Cao Phong Việc tăng nhanh về diện tích đất trồng và thâm canh cao nhóm cây có múi đang trở thành mối quan tâm lớn vì rất có thể có nhiều khủng hoảng xảy ra do thiếu nguồn nước tưới, lạm dụng phân bón và thuốc BVTV làm gia tăng tình trạng ô nhiễm và suy thoái chất lượng đất: giảm năng suất, sử dụng phân bón và hóa chất BVTV để tăng năng suất, hậu quả làm suy thoái đất và giảm năng suất sẽ làm trầm trọng thêm sự ô nhiễm đất canh tác và gây ra các bệnh dịch quy mô rộng, gây thiệt hại lớn về kinh tế, môi trường. Theo tổng hợp và nghiên cứu, hiện nay đã phát hiện trên 30 loại sâu bệnh hại trên cây cam, dưới đây là một vài bệnh hại chính trên cây cam (đặc biệt là bệnh vàng lá Greening, vàng lá thối rễ, thối rụng quả…).
a) Bệnh vàng lá Greening Bệnh vàng lá Greening là một trong vài bệnh phổ biến nhất trên cây cam do vi khuẩn Liberobacter asiaticum gây ra, chúng thường gây hại trên tất cả các chủng loại cây ăn quả thuộc nhóm cây cam và tất cả các tổ hợp gốc ghép - mắt ghép. Bệnh vàng lá Greening có thời gian phát sinh dài, từ tháng 4 đến cuối tháng 9 hằng năm, gây ra các hiện tượng vàng lá, biến dạng lá, vẹo quả, ảnh hưởng trực tiếp tới năng xuất, chất lượng quả cam. Đào Thị Trang – K28 Khoa học môi trường 7 Luận văn tốt nghiệp Đại học Khoa học Tự nhiên Hình 1. Bệnh vàng lá Greening và triệu chứng gây hại (Nguồn: Chi cục trồng trọt và BVTV tỉnh Hòa Bình) b) Bệnh loét Bệnh loét do vi khuẩn Xanthomonas axonopodis pv.
citri gây ra.