CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu 1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới 1.1 Những nghiên cứu về thuế tài nguyên và tác động của thuế tài nguyên về mặt lý thuyết (1) Năm 2009, Adina Martin, nghiên cứu về tác động của thuế đối với các quyết định đầu tư trong bối cảnh toàn cầu hóa. Nghiên cứu đã phân tích các yếu tố bên trong, bên ngoài ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của một doanh nghiệp. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với phân tích tổng hợp, mô tả đã chỉ ra rằng, các quyết định về chính sách tài khóa ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp (DN). Các doanh nghiệp quyết định đầu tư mở rộng sản xuất (SX) khi các chính sách tài khóa giảm.
Điều này cũng có nghĩa là khi chính sách thuế khai khoáng nới lỏng mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư thì ngành công nghiệp khai khoáng phát triển, các nhà đầu tư mở rộng khai thác. Ngược lại khi chính sách có nhiều bất lợi thì việc mở rộng đầu tư bị hạn chế. Như vậy nghiên cứu này mới chỉ nghiên cứu chung về thuế ảnh hưởng tới đầu tư của các doanh nghiệp nói chung trong đó có các nhà đầu tư khai thác khoáng sản nói riêng. Nghiên cứu dựa trên cơ sở phân tích các chính sách thuế của Chính phủ để đối chiếu với mức độ đầu tư của các doanh nghiệp từ đó đưa ra những nhận định của riêng mình về những tác động của thuế đối với các nhà đầu tư.
Phát hiện chính của nghiên cứu là mức thuế thấp doanh nghiệp mở rộng đầu tư, khi Chính phủ đánh thuế cao doanh nghiệp hạn chế đầu tư. Nghiên cứu không đi sâu nghiên cứu riêng biệt về thuế tài nguyên. Field, tác giả của của cuốn sách: Kinh tế tài nguyên thiên nhiên. Xuất phát từ những yêu cầu trong việc đảm bảo sự cân bằng giữa nguồn thu ngân sách và đảm bảo lợi nhuận đầu tư, tác giả đã phân tích các điều kiện để 10 thực hiện một chính sách thuế hợp lý.
Phân tích những yêu cầu của việc áp dụng chính sách thuế tài nguyên đối với các cơ quan quản lý thuế. Theo tác giả, việc chính quyền tăng thuế tài nguyên trong một chừng mực nhất định cũng có thể không làm giảm lượng TN khai thác nhưng có ảnh hưởng đến lợi nhuận của người khai thác. Theo quan điểm cận biên, hoạt động khai thác vẫn tiếp tục tăng cho đến điểm mà chi phí cận biên ngang bằng với giá trị thu nhập trung bình. Nói cách khác, khoản thuế này, đã được tính vào phần chi phí nên cho dù không kiểm soát trực tiếp đầu vào, số lượng khai thác cũng chỉ dừng ở số lượng mà ở đó cân bằng giữa thu nhập và chi phí cận biên, và như vậy sẽ đạt được mức độ hiệu quả cho xã hội.
Tuy nhiên, để áp dụng được một chính sách thuế thực sự hiệu quả, các cơ quan có thẩm quyền phải có những số liệu chính xác về chi phí và khoản thu nhập của người khai thác. Đây chính là điểm khó khăn, vì việc cung cấp chính xác những thông tin này cho các cơ quan có thẩm quyền về thuế chính là từ sự khai báo của người khai thác tài nguyên. Việc này đòi hỏi các cơ quan thuế phải đầu tư kiến thức trong việc thu thập đủ những thông tin chính xác nhằm xác định mức thuế suất hiệu quả. Như vậy ở đây tác giả đã chỉ ra một số nhân tố ảnh hưởng đến thuế TN và phương pháp xác định tương đối mức thuế tài nguyên hợp lý để có ảnh hưởng đến hành vi khai thác.
Stiglitz nghiên cứu về những tác động của thuế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích lô-gich, tổng hợp hệ thống hóa, phương pháp phân tích dữ liệu định tính để nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thuế nói chung tác động tới quy mô đầu tư của các hãng sản xuất. Phân tích chỉ ra khi Chính phủ điều chỉnh thuế các hãng sản xuất phải điều chỉnh quy mô sản xuất để sao cho đảm bảo sự cần bằng giữa lợi nhuận với chi phí cận biên. Khi Chính phủ đánh thuế ở mức cao các hãng sản xuất đã tìm mọi giải pháp để hạn chế phát sinh chi phí, hay làm giảm các chi phí khác.
Nghiên cứu phân tích sự tác động của thuế tài nguyên tới các hãng khai khoáng. Xác định tài nguyên là chi phí đầu vào của quá trình sản xuất và thuế tài nguyên cũng là khoản chi phí của các hãng, do vậy khoản chi phí về thuế tài nguyên luôn được các hãng quan tâm và tính toán kỹ lưỡng trong giá thành sản phẩm. Phạm vi nghiên cứu ở đây là tổng hợp chung cho các loại thuế 11 về những tác động của nó tới các hãng khai khoáng. Trên cơ sở thống kê, phân tích nghiên cứu đã chỉ ra một số tác động của thuế tài nguyên tới quy mô khai thác của các hãng khai khoáng.
Sự tác động của thuế tài nguyên và các loại thuế khác đã làm thay đổi sản lượng khai thác một số loại khoáng sản.2 Những nghiên cứu về thuế tài nguyên và tác động của thuế tài nguyên về mặt thực nghiệm. (1) Năm 1993, Robin Boadway và Frank Flatters, nghiên cứu thuế tài nguyên thiên nhiên. Nghiên cứu chủ yếu về các nguyên tắc tính thuế tài nguyên và các vấn đề về chính sách liên quan. Phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với phương pháp định lượng, nghiên cứu này đã sử dụng dữ liệu của 147 công ty trong giai đoạn 1990 - 1992 để xác định thuế tài nguyên được hình thành từ hai nguồn: (i) nguồn tài nguyên tái chế và (ii) nguồn tài nguyên không tái chế.
Nghiên cứu này cũng chỉ ra thuế tài nguyên có đóng góp quan trọng vào nguồn thu ngân sách nhằm phục vụ hoạt động của khu vực công. Đồng thời cũng đánh giá những tác động của thuế tài nguyên tới các nhà sản xuất. Ở giai đoạn thuế tài nguyên điều chinh mức cao thì các nhà sản xuất đã phải xem xét lại các khoản chi phí và cũng tìm cách để giữ được lợi nhuận ổn định. Nghiên cứu đã phát hiện thuế tài nguyên có vai trò quan trọng trong việc đóng góp nguồn thu cho ngân sách nhà nước và khi chính phủ điều chỉnh thuế tài nguyên ở mức cao thì có tác động tới việc cắt giảm các khoản chi phí khác của nhà sản xuất.
Nghiên cứu chưa tổng hợp lý luận và thực tiễn về tất cả các tác động tích cực và tiêu cực của thuế tài nguyên đối với các nhà sản xuất. (2) Năm 2012, Frauke Eckermann và các cộng sự, nghiên cứu về thuế tài nguyên và hiệu quả của tài nguyên trong chuỗi giá trị của tài nguyên khoáng sản. Nghiên cứu đã khảo sát đối với 254 nhân viên chính quyền và 260 nhà đầu tư khai khoáng. Với số liệu thu thập được nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích dữ liệu định tính và phân tích định lượng.
Kết quả cho thấy có ba loại thuế tài nguyên mà khu vực tư nhân phải nộp cho ngân sách nhà nước. Cụ thể như sau: (i) Thuế khai thác tài nguyên (thuế đánh vào tài nguyên tại các điểm khai thác), (ii) thuế nguyên liệu đầu vào (thuế đánh vào tài nguyên khi họ tham gia vào sản xuất), (iii) thuế tiêu thụ (thuế đánh vào tài nguyên thể hiện trong một sản phẩm cuối cùng hoặc 12 trên một sản phẩm cuối cùng tài nguyên nhạy cảm). Nghiên cứu này chỉ ra rằng giá cả hàng hóa trên thị trường tăng hay giảm không phải chỉ bởi sự chi phối từ sự khan hiếm nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất mà còn bởi mức thuế tài nguyên áp dụng trên hàng hóa đó. Chính vì vậy, thuế tài nguyên ngoài những tác động trực tiếp đến giá hàng hóa, thuế tài nguyên còn ảnh hưởng đến hành vi hoạt động của các tổ chức kinh tế.
Thu thuế tài nguyên còn đóng góp cho việc cải tạo môi trường, bởi lẽ khai thác tài nguyên chỉ mang lại ngoại ứng tiêu cực là hủy hoại môi trường làm ảnh hưởng tới các hoạt động xung quanh nơi khai thác. Chính vì lý do đó mà nhiều quốc gia phát triển đánh thuế rất thấp đối với nguồn đầu vào cho sản xuất tái chế được. Nghiên cứu này cũng đưa ra các đề xuất thuế tài nguyên như là một công cụ của Nhà nước trong việc điều tiết các hành vi khai thác sử dụng tài nguyên ở các nước thuộc liên minh Châu Âu. Nghiên cứu đã phát hiện thuế tài nguyên ngoài việc tác động đến các hãng khai khoáng nó còn tác động đến giá cả hàng hóa sản xuất từ tài nguyên.
Nhưng điều tiết khai thác như thế nào là phù hợp để có tác động tích cực thì nghiên cứu chưa chỉ rõ và chưa đưa ra lý luận cũng như các căn cứ thực tiễn để xác định mức thuế tài nguyên hợp lý. (3) Năm 2011, Paula Casal, nghiên cứu về thuế tài nguyên thiên nhiên toàn cầu. Nghiên cứu sử dụng các dữ liệu điều tra năm 2010 của các cơ quan Tài chính công của Chính phủ Tây Ban Nha để đưa ra các đánh giá về thuế tài nguyên thiên nhiên toàn cầu. Kết quả nghiên cứu cho thấy thuế TN ngoài việc tạo nguồn thu cho Chính phủ nó có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc khôi phục môi trường khai thác, làm hạn chế những tác động sấu sau quá trình khai thác của các mỏ.
Khai thác tài nguyên hầu như chỉ mang lại ngoại ứng tiêu cực, nó làm ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của DN khác mà không được tính trong giá thành sản phẩm. Chính vì thế không phải chỉ đơn lẻ từng quốc gia quan tâm đến bảo vệ môi trường nhờ công cụ thuế tài nguyên thiên nhiên, mà đòi hỏi tất cả các nước trên toàn cầu đều phải sử dụng công cụ thuế để điều tiết hoạt động khai thác của các nhà đầu tư nhằm hạn chế thấp nhất những tác động sấu đến môi trường. Thậm chí Chính phủ phải dừng khai thác đối với một số mỏ có tác động đến môi trường trên diện rộng. Sử dụng nguồn thu từ thuế tài nguyên để khắc phục tác hại do khai thác TN gây ra.
Phát hiện chính 13 của nghiên cứu là thuế tài nguyên có tác động đến nguồn thu của Chính phủ và tác động đến môi trường toàn cầu. Nghiên cứu chưa đưa ra các tiêu chí đánh giá tác động của thuế tài nguyên; phân tích tác động của thuế tài nguyên đến khối lượng tài nguyên khai thác và mức thuế tài nguyên như thế nào là phù hợp.