Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Tác động của thuế tài nguyên đối với khai thác tài nguyên thiên nhiên - Qua khảo sát thực tế tại tỉnh Ninh Bình" do nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Phương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đặng Văn Thắng, bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2017, thuộc chuyên ngành Kinh tế chính trị (mã số: 62310102).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, luận án chỉ rõ tài nguyên thiên nhiên là nguồn lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, song việc khai thác thiếu kiểm soát đã dẫn đến nguy cơ cạn kiệt và phát sinh ngoại ứng tiêu cực phá hủy môi trường sinh thái. Thuế tài nguyên giữ hai vai trò cơ bản: tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và điều tiết hoạt động khai thác, sử dụng tiết kiệm tài nguyên. Tại Việt Nam nói chung và Ninh Bình nói riêng, giai đoạn 2010–2015 đã chứng kiến 3 lần điều chỉnh thuế suất thuế tài nguyên. Ninh Bình sở hữu nguồn khoáng sản đa dạng, trữ lượng lớn, đặc trưng cho vùng trung du Bắc Bộ như đá vôi, đất san lấp, đất làm gạch, than và nước khoáng, nhưng hoạt động khai thác còn lãng phí. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: cho đến thời điểm thực hiện, chưa có công trình nào đánh giá toàn diện, có hệ thống tác động của thuế tài nguyên đến hành vi khai thác tiết kiệm tài nguyên kết hợp với mục tiêu tăng thu ngân sách nhà nước trên cơ sở lý luận kinh tế chính trị và dữ liệu thực nghiệm cụ thể.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể theo 3 nội dung:

  1. Thứ nhất: Làm rõ những vấn đề lý luận chung về tài nguyên thiên nhiên, mô hình kinh tế tài nguyên thiên nhiên, các nhân tố ảnh hưởng đến thuế tài nguyên và tiêu chí đánh giá tác động của thuế tài nguyên; tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của một số nước và địa phương về sử dụng thuế tài nguyên theo hướng vừa bảo đảm tiết kiệm tài nguyên vừa tăng thu ngân sách nhà nước.
  2. Thứ hai: Phân tích thực trạng tác động của thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác một số loại khoáng sản trên địa bàn tỉnh Ninh Bình để làm cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng chính sách thuế tài nguyên.
  3. Thứ ba: Đề xuất phương hướng và các giải pháp nâng cao tác động tích cực của thuế tài nguyên nhằm giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa khai thác tiết kiệm, tăng thu ngân sách, bảo đảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và thu nhập của người lao động.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm 4 câu hỏi:

  • Câu hỏi 1: Đánh giá tác động của thuế tài nguyên đối với khai thác tài nguyên dựa trên những tiêu chí nào?
  • Câu hỏi 2: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến thuế tài nguyên?
  • Câu hỏi 3: Tác động của thuế tài nguyên đến khai thác tài nguyên ở tỉnh Ninh Bình như thế nào?
  • Câu hỏi 4: Giải pháp nào cần được đưa ra đối với các chủ thể trong việc nâng cao tác động tích cực của thuế tài nguyên?

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động của thuế tài nguyên đến khai thác tài nguyên dưới giác độ kinh tế chính trị học. Luận án tiếp cận thuế tài nguyên như một công cụ quản lý tác động đến hoạt động kinh tế, phản ánh quan hệ kinh tế giữa Nhà nước (đại diện chủ sở hữu tài nguyên) và doanh nghiệp (chủ thể khai thác, sử dụng tài nguyên).

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:

  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu 5 loại tài nguyên khoáng sản chủ yếu đang được khai thác tại tỉnh Ninh Bình gồm đá vôi, đất làm gạch, đất san lấp, than các loại và nước khoáng. Luận án tập trung vào tác động tiết kiệm tài nguyên và tăng thu ngân sách nhà nước; không đi sâu nghiên cứu tác động bảo vệ môi trường và xử lý ngoại ứng tiêu cực sinh thái vì nội dung này do phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản trực tiếp điều tiết.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát thực tế trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, có so sánh, đối chiếu số liệu thu ngân sách với tỉnh Lào Cai và tỉnh Thanh Hóa.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích dữ liệu trong giai đoạn 5 năm từ năm 2011 đến hết năm 2015, là giai đoạn có 3 lần điều chỉnh thuế suất thuế tài nguyên tại Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai nhóm lý thuyết và thực nghiệm:

Về các công trình nghiên cứu trên thế giới:

  • Nhóm nghiên cứu lý thuyết: Adina Martin (2009) phân tích tác động của chính sách tài khóa đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp, khẳng định thuế suất thấp thúc đẩy mở rộng đầu tư khai khoáng và ngược lại. Barry C. Field trong công trình "Kinh tế tài nguyên thiên nhiên" phân tích nguyên tắc định thuế dựa trên chi phí cận biên và thu nhập trung bình, chỉ ra việc tăng thuế trong chừng mực nhất định có thể duy trì sản lượng tại điểm cân bằng hiệu quả xã hội. Joseph Stiglitz phân tích lý thuyết về thuế, xác định tài nguyên và thuế tài nguyên là cấu phần chi phí đầu vào buộc các hãng khai thác phải tính toán để cân bằng giữa chi phí cận biên và lợi nhuận.
  • Nhóm nghiên cứu thực nghiệm: Robin Boadway và Frank Flatters (1993) khảo sát dữ liệu 147 công ty (1990–1992), phân định tài nguyên tái chế và không tái chế, chứng minh thuế tài nguyên đóng góp lớn cho khu vực công và thúc đẩy cắt giảm chi phí sản xuất. Frauke Eckermann và các cộng sự (2012) khảo sát 254 nhân viên chính quyền và 260 nhà đầu tư, phân loại 3 hình thức thuế tài nguyên (thuế khai thác, thuế nguyên liệu đầu vào, thuế tiêu thụ) và chỉ ra tác động của thuế đến giá hàng hóa. Paula Casal (2011) sử dụng dữ liệu tài chính công năm 2010 của Tây Ban Nha để đánh giá thuế tài nguyên toàn cầu và vai trò khôi phục môi trường. John Freebairn và John Quiggin (2010) nghiên cứu chính sách tại 34 quốc gia và hơn 200 nhà đầu tư tại Australia (2004–2008), nhấn mạnh sự cần thiết của việc phân cấp quản lý thuế tài nguyên cho chính quyền địa phương. Báo cáo của Bộ Tài chính Na Uy (2012) dựa trên hơn 200 cuộc điều tra doanh nghiệp và 200 khảo sát cơ quan quản lý, chỉ ra các nguyên tắc đánh thuế linh hoạt dựa trên sản lượng, lợi nhuận hoặc giá bán. James M. Otto điều tra 255 nhân viên chính phủ và 264 nhà đầu tư khoáng sản tại các nước đang phát triển, chỉ ra thuế tài nguyên là công cụ điều tiết kép: vừa nâng cao nguồn thu vừa hướng dẫn hành vi khai thác.

Về các công trình nghiên cứu tại Việt Nam:

  • Tạ Văn Nam (2016) nghiên cứu vai trò của thuế đối với phát triển kinh tế - xã hội tại tỉnh Vĩnh Phúc (2010–2014) thông qua khảo sát gần 200 cán bộ quản lý và hơn 50 doanh nghiệp. Vũ Văn Cương (2012) khảo sát 225 phiếu về pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường. Bài viết của Quang Chung (2009) trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn chỉ ra những kẽ hở trong chính sách thuế suất dẫn đến khai thác khoáng sản bừa bãi. Ngô Văn Khương (2016) khảo sát hơn 200 cán bộ tài chính ở 3 cấp hành chính, phân tích vai trò của chính sách thuế đối với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định và giải quyết gồm:

  • Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận thuế tài nguyên ở phạm vi chính sách tài chính chung hoặc góc độ pháp luật quản lý thuế, chưa tổng hợp cơ sở lý luận kinh tế chính trị về tác động của thuế tài nguyên đối với hành vi khai thác tiết kiệm tài nguyên.
  • Chưa có hệ thống tiêu chí định tính và định lượng hoàn chỉnh để đánh giá mức độ tác động của thuế tài nguyên đối với sản lượng khai thác, nguồn thu ngân sách, hiệu quả của doanh nghiệp và thu nhập của người lao động.
  • Chưa phân tích thực nghiệm tác động kết hợp của việc điều chỉnh thuế suất và giá tính thuế tài nguyên trên địa bàn cấp tỉnh đối với từng nhóm khoáng sản cụ thể nhằm tìm ra điểm cân bằng giữa yêu cầu bảo tồn tài nguyên và bảo đảm nguồn thu công.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa lý luận địa tô của kinh tế chính trị học và mô hình kinh tế tài nguyên thiên nhiên:

  • Lý luận địa tô: Luận án kế thừa lý luận địa tô của trường phái cổ điển Anh và lý luận địa tô của C. Mác về địa tô tư bản chủ nghĩa, bao gồm địa tô tuyệt đối, địa tô chênh lệch, địa tô độc quyền và địa tô hầm mỏ. Địa tô hầm mỏ được hình thành do sự khác biệt về giá trị khoáng sản, hàm lượng, trữ lượng, vị trí địa lý và điều kiện khai thác. Tại Việt Nam, tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, do đó việc Nhà nước thu thuế tài nguyên chính là hình thức thực hiện quyền sở hữu kinh tế nhằm thu hồi địa tô hầm mỏ.
  • Mô hình kinh tế tài nguyên thiên nhiên: Luận án vận dụng mô hình cân bằng thị trường tài nguyên và khái niệm tô kinh tế (economic rent) của Tom Tietenberg (2006). Nguyên tắc tối ưu hóa khai thác tài nguyên không tái tạo đạt được khi chi phí cận biên bằng doanh thu cận biên và bằng giá bán (MC = MR = P). Luận án cũng điểm lại 3 phương pháp Nhà nước thu hồi tô kinh tế: thu thuế trên dòng tiền thực, tổ chức đấu thầu quyền khai thác, và tham gia góp vốn cổ phần.
  • Luận án phân tích bản chất kinh tế của thuế tài nguyên và chỉ rõ điểm bất cập giữa lý luận và thực tiễn: Về mặt lý luận kinh tế chính trị, thuế tài nguyên là khoản thu địa tô hầm mỏ nằm ngoài chi phí sản xuất kinh doanh thông thường; tuy nhiên, theo quy định pháp luật hiện hành tại Việt Nam, thuế tài nguyên lại được thiết kế như một sắc thuế gián thu, tính gộp vào giá thành sản phẩm tài nguyên và do người tiêu dùng cuối cùng gánh chịu.

Khung mô hình nghiên cứu của luận án (Bảng 1.1) thiết lập mối quan hệ tương tác giữa 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng và 4 nhóm kết quả tác động:

Cấu phần mô hình Các chỉ tiêu và nội dung chi tiết
Nhân tố ảnh hưởng 1. Hệ thống luật pháp liên quan và cơ chế chính sách thuế tài nguyên.
2. Tổ chức quản lý thuế tài nguyên của cơ quan nhà nước.
3. Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý thuế.
4. Nhận thức và ứng xử của người nộp thuế (doanh nghiệp khai thác).
Kết quả tác động 1. Khối lượng tài nguyên khai thác (đo bằng tấn hoặc m³; mức độ tiết kiệm tài nguyên).
2. Đóng góp cho ngân sách nhà nước (số thuế nộp hàng năm, tỷ trọng trong tổng thu).
3. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (lợi nhuận sản xuất kinh doanh).
4. Thu nhập của người lao động (tiền lương bình quân hàng năm).
Giải pháp đề xuất Nhóm giải pháp cơ chế chính sách pháp luật và nhóm giải pháp về nội dung chính sách thuế.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng:

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phân tích - tổng hợp, hệ thống hóa và mô hình hóa.
  • Dữ liệu thứ cấp: Số liệu báo cáo thống kê từ Cục Thuế tỉnh Ninh Bình, Cục Thuế tỉnh Thanh Hóa, Cục Thuế tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011–2015; báo cáo tài chính và kết quả khai thác của các doanh nghiệp; các văn bản quy phạm pháp luật (Pháp lệnh Thuế tài nguyên 1990, Luật Thuế tài nguyên 2009 và các văn bản hướng dẫn).
  • Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát bằng bảng hỏi cấu trúc gồm hai mẫu điều tra:
    • Mẫu M2 (Cán bộ quản lý): Thu thập 185 phiếu hợp lệ, gồm 129 cán bộ ngành Thuế (chiếm 70%), 28 cán bộ ngành Tài chính (15%), 28 cán bộ ngành Tài nguyên và Môi trường (15%). Về phân cấp hành chính, cấp tỉnh chiếm 46% (85 phiếu), cấp huyện/thành phố chiếm 32% (60 phiếu), cấp xã/phường chiếm 22% (40 phiếu).
    • Mẫu M1 (Doanh nghiệp khai thác): Khảo sát 47 doanh nghiệp trên tổng số 70 doanh nghiệp khoáng sản đang hoạt động tại Ninh Bình (tỷ lệ chọn mẫu đạt 67%), gồm 22 doanh nghiệp khai thác đá vôi (trên tổng số 25 doanh nghiệp), 12 doanh nghiệp khai thác đất làm gạch (trên tổng số 23 doanh nghiệp), 5 doanh nghiệp khai thác đất san lấp (trên tổng số 13 doanh nghiệp), 4 doanh nghiệp khai thác than (4/4 doanh nghiệp) và 4 doanh nghiệp khai thác nước khoáng (4/5 doanh nghiệp).
  • Kỹ thuật xử lý dữ liệu: Sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: rất không phù hợp đến 5: rất phù hợp). Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS và Microsoft Excel để tính toán các tham số thống kê mô tả (giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất, điểm trung bình) và phân tích so sánh định lượng sản lượng, số thu thuế, lợi nhuận qua các năm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu các công trình liên quan đến công trình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Chương 1 tập trung hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến thuế tài nguyên, từ đó xác lập 3 khoảng trống nghiên cứu chính. Tác giả thiết kế mô hình nghiên cứu tác động của thuế tài nguyên (Bảng 1.1), xây dựng quy trình thu thập dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp từ 185 cán bộ quản lý (mẫu M2) và 47 doanh nghiệp khai thác khoáng sản (mẫu M1) trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Chương này cũng thiết lập hệ thống thang đo gồm thang đo các nhân tố ảnh hưởng (mức độ đầy đủ, đồng bộ của luật pháp; sự phù hợp của chính sách thuế; tính hợp lý trong tổ chức khai thác; năng lực cán bộ thuế; nhận thức người khai thác) và thang đo các chỉ tiêu kết quả tác động (sản lượng khai thác tính bằng tấn hoặc m³; số nộp ngân sách nhà nước; lợi nhuận doanh nghiệp; thu nhập người lao động), đồng thời quy định quy trình làm sạch và phân tích dữ liệu trên phần mềm SPSS và Excel.

Chương 2: Cơ sở lý luận về tác động của thuế tài nguyên và kinh nghiệm thực tiễn về sử dụng thuế tài nguyên đối với khai thác tài nguyên thiên nhiên

Chương 2 làm rõ các khái niệm về tài nguyên thiên nhiên, phân loại tài nguyên tái tạo và không tái tạo (dẫn chiếu các nghiên cứu của Hoàng Xuân Cơ, Đàm Văn Liêm, Lê Ngọc Uyển, Nguyễn Thị Kim Nga, Nguyễn Hiền), phân tích yêu cầu khai thác tài nguyên gắn với phát triển kinh tế bền vững (Ngô Thắng Lợi, Phan Thị Nhiệm, Nguyễn Mậu Dũng, Vũ Thị Phương Thụy, Nguyễn Văn Song). Tác giả trình bày mô hình kinh tế tài nguyên thiên nhiên của Tom Tietenberg, phân tích khái niệm tô kinh tế qua đồ thị cân bằng thị trường (Hình 2.1) và điều kiện tối đa hóa lợi nhuận MC = MR = Giá.

Tiếp đó, chương luận giải cơ sở lý luận địa tô của trường phái cổ điển và C. Mác, khẳng định địa tô hầm mỏ là nền tảng lý luận để Nhà nước thu thuế tài nguyên. Tác giả chỉ ra tính hai mặt của thuế tài nguyên: mặt tích cực là hạn chế khai thác quá mức, thúc đẩy đổi mới công nghệ, tăng thu ngân sách; mặt tiêu cực là nếu thuế suất quá cao sẽ làm triệt tiêu động lực đầu tư, khuyến khai thác chọn lọc phần mỏ giàu và bỏ phí tài nguyên nghèo. Chương 2 thiết lập hệ thống tiêu chí đánh giá tác động định tính và định lượng, phân tích các nhân tố ảnh hưởng, đồng thời đúc kết bài học kinh nghiệm quản lý thuế tài nguyên từ các quốc gia và địa phương khác.

Chương 3: Thực trạng tác động của thuế tài nguyên đối với khai thác tài nguyên thiên nhiên ở tỉnh Ninh Bình

Chương 3 phân tích thực trạng khai thác khoáng sản tại Ninh Bình và tác động thực tế của thuế tài nguyên giai đoạn 2011–2015 thông qua hệ thống số liệu định lượng và kết quả khảo sát:

  • Tác động đến điều tiết sản xuất và khai thác tiết kiệm tài nguyên: Thuế tài nguyên điều chỉnh tăng đã tác động kiềm chế tốc độ tăng sản lượng khai thác đá vôi, than, đất sét làm gạch. Số liệu khảo sát tại Bảng 3.1, 3.2 và 3.3 cho thấy khi thuế suất tăng, các doanh nghiệp buộc phải tính toán lại sản lượng khai thác tối ưu để bảo đảm lợi nhuận.
  • Tác động đến đóng góp ngân sách nhà nước: Tổng hợp số thu thuế tài nguyên tại Ninh Bình tăng đều qua các năm nhưng tỷ trọng thuế tài nguyên trong tổng thu thuế, phí vẫn còn ở mức khiêm tốn (Hình 3.1). Luận án so sánh số thu thuế tài nguyên của Ninh Bình với Lào Cai và Thanh Hóa (Bảng 3.6), làm rõ kết quả đóng góp của từng nhóm khoáng sản như đất san lấp (Bảng 3.7), than (Bảng 3.5).
  • Tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và đổi mới công nghệ: Thuế tài nguyên buộc các doanh nghiệp khai thác đá vôi, đất gạch phải cải tiến công nghệ sản xuất (Bảng 3.8, 3.9) và đổi mới tổ chức quản lý (Bảng 3.10) nhằm hạ giá thành, bù đắp chi phí thuế tăng thêm. Đánh giá tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp tại Bảng 3.11.
  • Tác động đến thu nhập và đời sống người lao động: Doanh nghiệp tìm cách cơ cấu lại lao động, năng suất lao động tăng giúp duy trì mức tăng tiền lương bình quân hàng năm.
  • Đánh giá mặt hạn chế và nguyên nhân: Dựa trên kết quả khảo sát (Bảng 3.15 đến Bảng 3.22), luận án chỉ ra các bất cập: quy định về người nộp thuế chưa bao quát hết khai thác nhỏ lẻ; giá tính thuế tài nguyên do UBND tỉnh ban hành còn thấp hơn giá thị trường tự do; việc xác định sản lượng tài nguyên tính thuế chủ yếu dựa vào tự kê khai của doanh nghiệp mà thiếu trạm cân và phương tiện đo lường kiểm chứng; khung thuế suất giữa các địa phương lân cận còn chênh lệch dẫn đến tình trạng chuyển lậu tài nguyên.

Chương 4: Phương hướng và giải pháp nâng cao tác động của thuế tài nguyên đối với khai thác tài nguyên thiên nhiên

Chương 4 xác định bối cảnh quản lý tài nguyên và đề xuất 9 giải pháp đồng bộ chia làm 2 nhóm:

  • Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách, pháp luật (5 giải pháp):
    1. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thuế tài nguyên, bảo đảm tính thống nhất giữa Luật Khoáng sản, Luật Thuế tài nguyên và Luật Bảo vệ môi trường.
    2. Đẩy mạnh phân cấp quản lý và trao quyền chủ động cho chính quyền địa phương trong việc giám sát hoạt động khai thác mỏ.
    3. Tăng cường phối hợp liên ngành giữa cơ quan Thuế, Sở Tài chính và Sở Tài nguyên và Môi trường trong việc kiểm soát sản lượng mỏ và cấp phép khai thác.
    4. Nâng cao năng lực thanh tra, kiểm tra thuế, đầu tư trang thiết bị đo đạc địa hình, camera giám sát và trạm cân tại cửa mỏ để kiểm soát sản lượng thực tế.
    5. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của các chủ doanh nghiệp khai thác.
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện nội dung chính sách thuế tài nguyên (4 giải pháp):
    1. Hoàn thiện quy định về người nộp thuế và đối tượng chịu thuế, bao quát các hoạt động tận thu, khai thác đất san lấp công trình.
    2. Hoàn thiện phương pháp xác định sản lượng tính thuế dựa trên số liệu đo trắc địa mỏ định kỳ thay vì chỉ dựa vào hóa đơn bán hàng.
    3. Hoàn thiện quy định về giá tính thuế, xây dựng cơ chế điều chỉnh giá tính thuế linh hoạt theo biến động giá thị trường hàng năm.
    4. Hoàn thiện quy định về thuế suất và miễn giảm thuế: Đề xuất Biểu thuế suất rút gọn (Bảng 4.1), thu hẹp khoảng cách khung thuế suất giữa mức sàn và mức trần, rà soát thu hẹp các đối tượng được miễn, giảm thuế không hợp lý.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận:

  • Luận án đã xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh về tác động của thuế tài nguyên đối với khai thác tài nguyên thiên nhiên dưới góc độ kinh tế chính trị học, tích hợp giữa lý luận địa tô hầm mỏ của C. Mác và mô hình cân bằng tài nguyên của Tom Tietenberg.
  • Thiết lập hệ thống tiêu chí định tính và định lượng để đánh giá tác động của thuế tài nguyên đối với 4 yếu tố: tính tiết kiệm tài nguyên, nguồn thu ngân sách nhà nước, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và thu nhập của người lao động.
  • Chỉ ra và luận giải tính hai mặt của thuế tài nguyên, xác định 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng chi phối chiều hướng tác động của sắc thuế này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  • Phản ánh trung thực bức tranh thực tế về tác động của thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2011–2015 đối với 5 loại khoáng sản cụ thể, chỉ ra nguyên nhân của tình trạng thất thu thuế và lãng phí tài nguyên.
  • Lượng hóa phản ứng của doanh nghiệp khi có sự điều chỉnh thuế suất và giá tính thuế tài nguyên; chứng minh rằng khi thuế suất và giá tính thuế được điều chỉnh tăng trong giới hạn hợp lý sẽ vừa kiềm chế tốc độ khai thác bừa bãi vừa gia tăng nguồn thu ngân sách.
  • Đề xuất hệ thống 9 giải pháp có tính khả thi, trong đó có 5 giải pháp về thể chế quản lý và 4 giải pháp về kỹ thuật chính sách thuế, trọng tâm là đề xuất Biểu thuế suất rút gọn (Bảng 4.1) và cơ chế định giá tính thuế sát với giá giao dịch thực tế trên thị trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Luận án giới hạn phạm vi nội dung ở tác động tiết kiệm tài nguyên và tăng thu ngân sách, không nghiên cứu tác động bảo vệ môi trường sinh thái và giải quyết ngoại ứng ô nhiễm do xác định nội dung này thuộc phạm vi điều chỉnh của phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản.
  • Địa bàn khảo sát thực nghiệm tập trung tại tỉnh Ninh Bình với 5 loại khoáng sản đại diện cho vùng trung du Bắc Bộ, chưa bao quát các vùng sinh thái khoáng sản khác trong cả nước.
  • Dữ liệu nghiên cứu dừng lại ở mốc thời gian hết năm 2015, chưa phản ánh các biến động chính sách và thị trường ở các giai đoạn sau năm 2015.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi đối tượng sang các nhóm tài nguyên thiên nhiên khác như tài nguyên rừng tự nhiên, tài nguyên sinh vật biển và tài nguyên năng lượng (dầu khí).
  • Mở rộng nghiên cứu so sánh liên vùng trên phạm vi toàn quốc nhằm kiểm định tính đại diện của mô hình nghiên cứu.
  • Nghiên cứu tích hợp tác động phối hợp giữa thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường và tiền cấp quyền khai thác khoáng sản trong cơ chế điều tiết tổng thể kinh tế tài nguyên.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế và Tài chính công: Luận án là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp giữa lý luận địa tô kinh tế chính trị với mô hình kinh tế học hiện đại; cung cấp quy trình thiết kế công cụ khảo sát hỗn hợp định tính và định lượng bằng phần mềm SPSS và Excel.
  • Đối với cơ quan hoạch định chính sách (Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội): Nội dung phân tích bất cập về giá tính thuế, phương pháp xác định sản lượng và Biểu thuế suất đề xuất rút gọn tại Chương 4 là căn cứ thực tiễn phục vụ sửa đổi Luật Thuế tài nguyên và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Đối với chính quyền địa phương (UBND, Sở Tài chính, Cục Thuế các tỉnh có hoạt động khai khoáng): Cung cấp bài học kinh nghiệm trong công tác phối hợp liên ngành, kỹ thuật quản lý sản lượng mỏ và xây dựng bảng giá tính thuế sát với thị trường địa phương.
  • Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác khoáng sản: Cung cấp góc nhìn về xu hướng điều tiết chính sách thuế để chủ động đổi mới công nghệ, tối ưu hóa quy trình khai thác và tiết kiệm chi phí đầu vào.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án giải quyết mâu thuẫn giữa lý luận kinh tế chính trị và thực tiễn pháp lý về bản chất thuế tài nguyên như thế nào? Về mặt lý luận kinh tế chính trị, thuế tài nguyên là sự chuyển hóa của địa tô hầm mỏ (khoản lợi nhuận siêu ngạch nằm ngoài chi phí sản xuất bình thường và lợi nhuận của doanh nghiệp). Tuy nhiên, thực tiễn pháp luật hiện hành lại xếp thuế tài nguyên vào nhóm thuế gián thu, được tính gộp vào giá thành sản phẩm tài nguyên và do người mua gánh chịu. Luận án chỉ rõ điểm không đồng nhất này và khuyến nghị cần hoàn thiện chính sách thuế tài nguyên theo đúng bản chất thu hồi tô kinh tế của chủ sở hữu nhà nước, bảo đảm điều tiết trực tiếp vào lợi nhuận siêu ngạch của người khai thác.

2. Dữ liệu thực nghiệm của luận án được thu thập từ những nguồn nào và cơ cấu mẫu điều tra ra sao? Luận án sử dụng dữ liệu thứ cấp từ Cục Thuế các tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa, Lào Cai giai đoạn 2011–2015 và dữ liệu sơ cấp từ hai mẫu khảo sát: mẫu cán bộ quản lý (M2) gồm 185 phiếu (129 cán bộ Thuế, 28 cán bộ Tài chính, 28 cán bộ Tài nguyên và Môi trường; phân bổ ở cấp tỉnh 46%, cấp huyện 32%, cấp xã 22%) và mẫu doanh nghiệp (M1) gồm 47 doanh nghiệp khai thác khoáng sản tại Ninh Bình (chiếm 67% số doanh nghiệp trên địa bàn, gồm 22 doanh nghiệp đá vôi, 12 doanh nghiệp đất gạch, 5 doanh nghiệp đất san lấp, 4 doanh nghiệp than và 4 doanh nghiệp nước khoáng).

3. Thuế tài nguyên tác động như thế nào đến hành vi khai thác tiết kiệm của doanh nghiệp tại Ninh Bình trong giai đoạn 2011–2015? Qua số liệu khảo sát và thống kê sản lượng mỏ, luận án chứng minh rằng khi thuế suất và giá tính thuế được điều chỉnh tăng, chi phí biên của doanh nghiệp tăng lên, buộc các doanh nghiệp phải cân nhắc điểm sản lượng tối ưu (MC = MR), từ đó hạn chế khai thác ồ ạt, giảm thất thoát khối lượng tài nguyên trong quá trình khai thác và thúc đẩy đầu tư đổi mới công nghệ tuyển quặng, chế biến sâu.

4. Vì sao luận án không nghiên cứu tác động của thuế tài nguyên đối với việc bảo vệ môi trường và giải quyết ngoại ứng tiêu cực? Luận án xác định rõ phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào tác động tiết kiệm tài nguyên và tăng thu ngân sách nhà nước. Lý do tác giả không đi sâu vào tác động bảo vệ môi trường là vì tại Việt Nam, chức năng khắc phục các ngoại ứng tiêu cực và bảo vệ môi trường sinh thái đã được giao trực tiếp cho công cụ phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản điều tiết.

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp cụ thể nào nhằm nâng cao tác động tích cực của thuế tài nguyên? Luận án đề xuất hệ thống 9 giải pháp gồm hai nhóm: Nhóm giải pháp cơ chế chính sách pháp luật (5 giải pháp) gồm hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, đẩy mạnh phân cấp quản lý, tăng cường phối hợp liên ngành Thuế - Tài chính - Tài nguyên Môi trường, nâng cao năng lực kiểm tra giám sát sản lượng tại cửa mỏ, đẩy mạnh tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế; Nhóm giải pháp về nội dung chính sách thuế (4 giải pháp) gồm bao quát đối tượng chịu thuế, hoàn thiện căn cứ xác định sản lượng, quy định giá tính thuế linh hoạt theo thị trường và áp dụng Biểu thuế suất rút gọn.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Phương là một công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về tác động của thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên dưới giác độ kinh tế chính trị học. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở lý luận địa tô hầm mỏ, mô hình kinh tế tài nguyên và phương pháp khảo sát thực chứng trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2011–2015, luận án đã làm rõ cơ chế tác động hai mặt của sắc thuế này đối với hành vi khai thác tiết kiệm và nguồn thu ngân sách nhà nước. Các kết quả phân tích thực nghiệm và hệ thống 9 giải pháp đồng bộ được đề xuất cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn có giá trị phục vụ công tác hoàn thiện chính sách thuế tài nguyên tại Việt Nam trong giai đoạn phát triển bền vững.