Chương 1-Giới thiệu đề tài ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách và cung tiền đến lạm phát, Chương 2-Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu, Chương 3-Thực trạng vấn đề lạm phát, thâm hụt ngân sách và cung tiền ở các quốc gia đang phát triển châu Á, Chương 4-Phương pháp nghiên cứu, Chương 5-Kết quả nghiên cứu, Chương 6-Kết luận và gợi ý chính sách. 123doc 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1Lạm phát Trong lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới, lạm phát đã và đang là vấn đề phức tạp đặt ra cho mỗi quốc gia, không chỉ ở các quốc gia đang phát triển mà ngay cả các nền kinh tế phát triển cũng gặp phải. Lạm phát ở một mức độ nhất định có thể là biện pháp thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế. Nhưng khi vượt qua ngưỡng lạm phát mục tiêu có thể trở thành căn bệnh gây tác động xấu đến nền kinh tế.
Lạm phát luôn là vấn đề được quan tâm rất nhiều, do đó lạm phát cũng được định nghĩa theo nhiều quan điểm khác nhau. Mác, Lạm phát là sự tràn đầy các kênh lưu thông các tờ giấy bạc thừa, gây nên sự mất giá của đồng tiền và sự phân phối lại sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân. Theo Samelson, Lạm phát xảy ra khi mức giá chung thay đổi. Khi mức giá tăng lên được gọi là lạm phát, khi mức giá giảm xuống được gọi là giảm phát.
Vậy lạm phát là sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian. Theo Friedman và các nhà kinh tế khác, Lạm phát là việc giá cả tăng nhanh và kéo dài, lạm phát luôn luôn và bao giờ cũng là hiện tượng tiền tệ - lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ. Lạm phát thường được đo lường bởi hai chỉ tiêu cơ bản là chỉ số giá tiêu dùng CPI (Consumer price index) và chỉ số giảm phát (GDP deflator). CPI dựa trên một rổ hàng hóa tiêu dùng và giá cá của các hàng hóa đó ở hai thời điểm khác nhau.
GDP deflator căn cứ vào khối lượng hàng hóa và dịch vụ trong năm và giá cả ở năm hiện hành với năm cố định được chọn làm gốc. CPI có ưu điểm là tính được lạm phát tại bất kỳ thời điểm nào chỉ căn cứ vào rổ hàng hóa, tuy nhiên CPI không thể đo lường lạm phát chính xác do bị tác động bởi hai yếu tố sai lệch của rổ hàng hóa được quy định trước gồm thứ nhất là sai lệch cơ cấu khi rổ hàng hóa chậm thay đổi 123doc 6 không tính đến các mặt hàng mới phát sinh nhưng được sử dụng phổ biến; thứ hai là sai lệch thay thế khi giá cả mặt hàng trong rổ gia tăng và người tiêu dùng chuyển sang sử dụng mặt hàng thay thế với giả rẻ hơn nằm ngoài rổ. Do đó, lạm phát được tính theo CPI có thể dẫn đến dự báo lạm phát quá mức. Đó cũng chính là lý do bài nghiên cứu sử dụng số liệu lạm phát được tính theo GDP deflator.
Có 3 nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát bao gồm: Lạm phát do cầu kéo hay là sự mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu hàng hóa dịch vụ. Nguyên nhân này gắn liền với sự gia tăng trong tổng cầu của nền kinh tế, qua đó gây áp lực lên lạm phát. Cầu kéo có thể do các vấn đề liên quan đến tiền tệ hoặc do việc thực hiện chính sách tài khóa dẫn đến thâm hụt cao, hoặc do tình trạng đầu cơ tài sản. Lạm phát do chi phí đẩy, xảy ra khi có tác động của các yếu tố bên ngoài không gắn với tổng cung và cầu của nền kinh tế như các cú sốc về giá đối với các mặt hàng như xăng dầu.
Ở một số quốc gia, lạm phát do chi phí đẩy có thể xuất phát từ các yếu tố mang tính chất cơ cấu như chi phí sản xuất của nền kinh tế cao, hiệu quả đầu tư thấp. Lạm phát do tiền tệ, giá tăng do khối lượng tiền đưa vào lưu thông vượt quá khối lượng cần thiết cho lưu thông của thị trường, hay nói cách khác là cung tiền vượt quá cầu tiền. Thực chất nguyên nhân này cũng được tính vào nhóm lạm phát do cầu kéo. Từ các định nghĩa, nguyên nhân và cách tính lạm phát nêu trên, có thể thấy đặc trưng cơ bản của lạm phát: đó là sự tăng lên trong mức giá chung của hàng hóa dịch vụ và sự mất giá của đồng tiền do hiện tượng khối lượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết.2Thâm hụt ngân sách Theo Cẩm nang Thống kê tài chính của Chính phủ (GFS) do Quỹ tiền tệ IMF ban hành, thâm hụt ngân sách (hay bội chi ngân sách) được xác định bằng chênh lệch giữa các khoản thu ngân sách và chi ngân sách.
Trong đó: Thu ngân sách là các khoản thu vào quỹ ngân sách mà không kèm theo, không làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả trực tiếp cho các đối tượng có nghĩa vụ phải nộp ngân sách. Thu ngân sách bao gồm thuế, phí và thu khác (kể cả viện trợ không hoàn lại), không bao gồm các khoản vay trong và ngoài nước. Theo đó, thu ngân sách là các khoản thu mang tính chất cưỡng bức hay là trách nhiệm của mọi người hoặc của các thành phần kinh tế đối với nhà nước. Chi ngân sách là các khoản chi từ ngân sách nhà nước không làm phát sinh nghĩa vụ phải bồi hoàn trực tiếp đối với các các đối tượng được thụ hưởng ngân sách.
Chi ngân sách bao gồm chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, các khoản chi khác, chi trả lãi vay nhưng không bao gồm chi trả nợ gốc. Mỗi quốc gia có cách xác định phạm vi các khoản thu chi ngân sách khác nhau dẫn đến các kết quả khác nhau về thâm hụt ngân sách. Thâm hụt ngân sách có thể được định nghĩa và tính toán theo nhiều tiêu chí khác nhau. Việc sử dụng thước đó “thâm hụt ngân sách” nào phụ thuộc vào mục tiêu phân tích và điều hành chính sách của mỗi quốc gia.
Mỗi thước đo thâm hụt thể hiện một khía cạnh nào đó trong bức tranh tổng quan về tình hình ngân sách, do đó, để đánh giá chính xác và đầy đủ về tình hình ngân sách của một quốc gia cần sử dụng đồng thời nhiều thước đo thâm hụt. Có 3 loại thước đo thâm hụt ngân sách phổ biến: Thâm hụt ngân sách tổng thể Đây là thước đo được IMF khuyến nghị các quốc gia sử dụng trong việc xác định tình trạng mất cân đối tài khóa và cũng là thước đo được sử dụng phổ biến nhất. Thâm hụt ngân sách tổng thể được xác định bằng chênh lệch giữa tổng thu và 123doc 8 tổng chi ngân sách trong một thời kỳ nhất định, thường là 1 năm ngân sách. Phạm vi xác định các khoản thu chi ngân sách đã được nêu ở phần trên.
Thâm hụt ngân sách thường xuyên Thước đo thâm hụt trên được xác định bằng chênh lệch giữa thu thường xuyên và chi thường xuyên. Đây là thước đo phản ánh sự tích lũy của chính phủ cho nhu cầu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của quốc gia. Điều quan trọng nhất để tính toán thước đo này là việc xác định và phân loại đâu là khoản thu thường xuyên. Theo thông lệ quốc tế, thu thường xuyên là các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí không mang tính chất “một lần” và “không tái tạo”.
Theo đó thì các khoản thu từ việc bán tài sản sẽ không được tính vào các khoản thu thường xuyên. Ngoài ra, có một số quốc gia cũng không đưa các khoản thu từ bán tài nguyên là khoản thu thường xuyên. Chi thường xuyên bao gồm các các khoản chi ngân sách nhà nước (bao gồm chi trả lãi vay) trừ chi đầu tư phát triển và chi viện trợ. Thước đo cán cân ngân sách thường xuyên có ý nghĩa quan trọng trong việc phân tích đánh giá tính bền vững của tình hình tài khóa một quốc gia.
Những quốc gia có thâm hụt ngân sách thường xuyên sẽ phải đối mặt với nguy cơ bất ổn về tài khóa. Việc cắt giảm các khoản chi thường xuyên đề giảm thâm hụt lúc nào cũng khá nhạy cảm và gây phản ứng tiêu cực từ người dân. Do đó khi đối mặt với thâm hụt ngân sách kéo dài, giải pháp giảm chi thường xuyên thường là giải pháp được chính phủ sử dụng sau cùng và khi không thể tăng thu thuế lên mức cao hơn nữa. Thâm hụt ngân sách cơ sở Thâm hụt ngân sách cơ sở được xác định bằng cách lấy thâm hụt ngân sách tổng thể trừ đi phần chi trả lãi vay.
Thước đo này cung cấp các thông tin đầy đủ và chính xác hơn về tác động và hiệu quả của việc điều hành chính sách trong năm của Chính phủ. Việc trả lãi vay là việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính cho các quyết định vay nợ trong quá khứ, không gắn với chính sách mà chính phủ thực hiện trong năm hiện tại (ngoại trừ các khoản vay trong năm hiện tại). Việc phân biệt giữa thâm hụt ngân sách tổng thể và thâm hụt ngân sách cơ sở có ý nghĩa quan trọng đối với các quốc gia có tỷ trọng chi trả lãi vay cao (cũng là các quốc gia có dư nợ chính phủ 123doc 9 cao), giúp cho việc tách bạch và hiểu rõ được các biến động bất thường trong việc tăng nghĩa vụ trả nợ do biến động tỷ giá hối đoái đối với khoản vay nước ngoài hay lãi suất đối với trường hợp lãi suất thả nổi. Thực tế có trường hợp thâm hụt ngân sách tổng thể cao không đồng nghĩa với việc Chính phủ đã thực hiện chính sách tài khóa mở rộng nếu như trong năm xuất hiện sự gia tăng đáng kể về nghĩa vụ trả tiền lãi vay một phần do các biến động liên quan đến kinh tế vĩ mô như tỷ giá tăng hay lãi suất tăng.3Cung tiền Cung ứng tiền tệ, gọi tắt là cung tiền là khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông nhằm đáp ứng nhu cầu về giao dịch, dự trữ của các cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế.
Khối lượng tiền được đo lường bằng các mức cung tiền khác nhau và được xác định theo nguyên tắc tính thanh khoản giảm dần: Tiền gửi không kỳ hạn, Tiền gửi có kỳ hạn, chứng khoán ngắn hạn, cổ phiếu, bất động sản.