Chương 1. Tổng quan về bài nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý thuyết và tổng quát các nghiên cứu thực nghiệm trước đây Chương 3. Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Chương 4.
Kết quả nghiên cứu tại Việt Nam Chương 5. Kết luận 123doc 6 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUÁT CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY Chương 2 bao gồm năm phần: 2. Lý thuyết về tự tin quá mức.
Ảnh hưởng của nhà quản lý quá tự tin đến vấn đề đầu tư.3 Các lý thuyết liên quan. Các bằng chứng thực nghiệm về tác động của nhà quản lý quá tự tin đến vấn đề đầu tư quá mức. Lý thuyết về tự tin quá mức Tự tin quá mức là khuynh hướng con người đề cao kiến thức, khả năng và tính chính xác thông tin của mình hoặc lạc quan quá mức về tương lai và khả năng kiểm soát tình thế của bản thân.Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học đã chứng minh hầu hết mọi người quá tự tin trong phần lớn thời gian. Và những nghiên cứu trong kinh tế tài chính cho thấy người ta thường tự tin quá mức trong việc đưa ra các quyết định tài chính.1 Các khuynh hướng tự tin quá mức bao gồm: Ước lượng sai: Là khuynh hướng người ta phóng đại sự chính xác kiến thức của bản thân.
Cách tiếp cận về ước lượng thường dựa trên việc yêu cầu người tham gia cung cấp khoảng tin cậy x% cho câu trả lời. Ước lượng sai hiện diện khi xác suất câu trả lời đúng nằm trong khoảng tin cậy khác biệt đáng kể so với x%. Những người được cho là ước lượng sai khi khoảng tin cậy của họ quá hẹp, dẫn đến những câu trả lời đúng nằm trong khoảng tin cậy đó thường ít hơn so với mức độ chính xác hàm ý. Kiểm tra sự ước lượng cũng được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.
Ví dụ người tham gia được hỏi các câu hỏi đúng, sai hoặc dạng nhiều lựa chọn. Tiếp đó hỏi về sự chính xác câu trả lời của họ. Nếu ai đó trả lời rằng mức độ chắc chắn trung bình trong các câu trả lời khoảng 70%, trong khi thực tế chỉ trả lời đúng khoảng 55% thì họ được cho là tự tin quá mức. Hiệu ứng tốt hơn trung bình: Người ta đánh giá khả năng của bản thân trên mức trung bình.
Một yếu tố làm cho người ta tin rằng khả năng của bản thân trên mức trung bình là do những định nghĩa chính xác về sự xuất sắc hay năng lực lại không 123doc 7 rõ ràng. Trong thâm tâm, con người thường giữ những định nghĩa mà họ sẽ giỏi nhất. Cả cơ chế nhận thức và cơ chế động viên dường ẩn sau hiệu ứng tốt hơn trung bình. Ở khía cạnh động viên, việc tin rằng bạn tốt hơn trung bình làm gia tăng lòng tự trọng.
Ở khía cạnh nhận thức, tiêu chí thành tích vốn dễ dàng in vào tâm trí thường là những gì mà bạn giỏi nhất. Ảo tưởng kiểm soát: Một biểu hiện khác của tự tin thái quá là ảo tưởng kiểm soát. Đó là khi con người cho rằng họ có khả năng kiểm soát tình huống tốt hơn thực tế có thể. Ví dụ: một người thấy những người chơi xúc sắc hành động như thể những người đó có thể kiểm soát được kết quả từ việc tung xúc sắc và người ta tin rằng sẽ nhiễm một loại bệnh nào đó phụ thuộc một phần vào đặc điểm của người mà họ sẽ tiếp xúc.
Lạc quan quá mức: Lạc quan quá mức hiện diện khi con người đánh giá xác suất của các kết quả thuận lợi hoặc bất lợi quá cao hay quá thấp so với kinh nghiệm quá khứ hoặc những phân tích suy luận. Có một dạng được gọi là sai lầm trong việc lập kế hoạch: là việc người ta thường nghĩ họ có thể hoàn thành kế hoạch vượt mức so với thực tế, và tất cả chi phí phát sinh đều đã được tính tới. Thiếu thực tế thì không thể không tạo ra chi phí. Việc không thể đạt được mục tiêu có thể dẫn đến sự thất vọng, đánh mất lòng tự trọng và giảm uy tín trong xã hội.
Thời gian và tiền bạc cũng có thể bị lãng phí khi theo đuổi những mục tiêu phi thực tế. Trong thực tế không phải lúc nào cũng dễ dàng phân biệt các biểu hiện khác nhau của sự quá tự tin. Qúa tự tin có thể có nhiều biểu hiện trong một trường hợp.2 Những nhân tố ngăn cản sự điều chỉnh Có ba khuynh hướng lệch lạc trong hành vi con người đóng góp vào việc duy trì sự quá tự tin. Đó là khuynh hướng tự quy kết, khuynh hướng nhận thức muộn và khuynh hướng tự xác nhận Lý thuyết tự quy kết nghiên cứu cách con người đưa ra các quy kết nhân quả, nghĩa là cách con người tìm ra những lý giải cho nguyên nhân của các hành động và các kết quả.
123doc 8 Lệch lạc tự quy kết là khuynh hướng người ta quy kết những thành công hay kết quả tốt đẹp cho khả năng của họ, trong khi đổ lỗi những thất bại cho các điều kiện ngoài tầm kiểm soát , điều này có thể dẫn đến việc gia tăng sự quá tự tin. Nếu mọi sự tốt đẹp, họ sẽ nghĩ họ có năng lực, kỹ năng và kiến thức (nhiều hơn so với các đánh giá khách quan) và kết quả là làm gia tăng sự quá tự tin. Mặt khác, những sự kiện tiêu cực chỉ được quy kết ở một mức độ vừa phải cho trách nhiệm cá nhân. Điều này dẫn đến sự mất cân xứng trong điều chỉnh tâm lý quá tự tin.
Liên quan chặt chẽ với sự tự quy kết là sự nhận thức muộn, khuynh hướng đưa người ta đến những suy nghĩ “đã biết từ lâu rồi”. Khuynh hướng này đặc biệt phổ biến khi một sự kiện trọng đại có các kết quả khác nhau được xác định rõ, khi những sự kiện này hàm chứa ý nghĩa về mặt cảm xúc hay đạo đức, hoặc khi những sự kiện này phụ thuộc vào một quá trình tưởng tượng , trước khi có kết quả. Đi liền với lệch lạc nhận thức muộn là lệch lạc tự xác nhận, là xu hướng tìm kiếm những bằng chứng phù hợp với niềm tin ban đầu và lờ đi những dữ liệu cho thấy điều ngược lại. Các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư 2.1 Chi phí đại diện Với những doanh nghiệp quy mô lớn và phức tạp không phải nhà đầu tư nào cũng có đủ khả năng để điều hành do đó sẽ có sự tách biệt giữa quản lý và kiểm soát, nhà đầu tư bỏ vốn và thuê người có kỹ năng sử dụng và quản lý số vốn này.
Sự tách biệt này giải quyết vấn đề vốn và năng lực quản trị nhưng cũng phát sinh những hệ quả làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, hay vấn đề bất cân xứng thông tin giữa thành phần bên trong (cổ đông kiểm soát, nhà quản lý) với các nhà đầu tư bên ngoài (cổ đông thiểu số) chính là vấn đề chi phí đại diện. Jensen & Meckling (1976) đã đặt nền móng khi nghiên cứu về vấn đề chi phí đại diện. Chi phí đại diện bao gồm chi phí kiểm soát, chi phí giao kèo và tổn thất lợi ích: 123doc 9 Do nguy cơ nhà quản lý tư lợi cá nhân nên cổ đông sẽ sử dụng hệ thống kiểm soát viên để giám sát và báo động nếu có dấu hiệu của vấn đề đại diện. Chi phí kiểm soát là chi phí trả cho các kiểm soát viên này.
Chi phí giao kèo là chi phí nhằm ngăn ngừa những hậu quả xấu có thể xảy ra từ những hành động thiếu trung thực của các nhà quản lý. Ví dụ nhà quản lý có thể báo cáo sai lệch, làm mượt kết quả hoạt động của công ty nhằm có được tiền thưởng… Những quyết định của nhà quản lý không hẳn nhằm tối đa hóa lợi ích cho cổ đông, những tổn thất do khác biệt lợi ích này gọi là tổn thất lợi ích.Ví dụ nếu thu nhập của nhà quản lý gắn liền với kết quả kinh doanh ngắn hạn, khi nhà quản lý nhận thấy dự án có khả năng sinh lợi trong dài hạn nhưng làm giảm lợi nhuận trong ngắn hạn họ sẽ không đầu tư vì ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân… Khi doanh nghiệp có nguồn tiền mặt dư thừa các nhà quản lý có thể chi tiêu lãng phí, sáp nhập hoặc mua lại không chính đáng, tài trợ cho các dự án có NPV âm…dẫn đến đầu tư quá mức. Sự mâu thuẫn về lợi ích giữa nhà quản lý và các cổ đông là cơ sở của giả thuyết dòng tiền tự do. Một trong những biện pháp khắc phục cơ bản cho vấn đề đại diện là luật pháp.
Nhà đầu tư có thể sử dụng luật doanh nghiệp và các luật khác để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Những nhà đầu tư bên ngoài có thể có quyền nhận cổ tức liên tiếp như người nội bộ, quyền bỏ phiếu về các vấn đề quan trọng của công ty, quyền kiện tụng công ty về thiệt hại. Shleifer & Vishny (2000) nêu vấn đề về xung đột lợi ích giữa các người bên trong công ty, chẳng hạn như các nhà quản lý và các cổ đông kiểm soát với các nhà đầu tư bên ngoài, ví dụ như các cổ đông thiểu số. Những người trong nội bộ kiểm soát tài sản của công ty có thể sử dụng những tài sản này cho một số mục đích gây bất lợi cho lợi ích của các nhà đầu tư bên ngoài.
Họ có thể chuyển các tài sản của công ty cho chính họ, thông qua chuyển dịch tài sản, chi trả tiền lương, thưởng quá cao, bán tài sản cho chính họ hoặc các công ty khác mà họ kiểm soát với giá thuận lợi hoặc chuyển giá với các chủ thể khác mà họ kiểm soát. Ngoài ra, người trong nội bộ có thể sử dụng tài sản của công ty để theo đuổi các chiến lược đầu tư đem lại 123doc 10 cho họ những lợi ích cá nhân về kiểm soát, mà không đem lại lợi ích cho nhà đầu tư bên ngoài (Baumol, 1959; Jensen, 1986). Tại Hoa Kỳ, U., Canada và Australia, nơi mà quyền sở hữu thường tách bạch với quyền quản lý trong các tập đoàn lớn. Ngược lại, ở hầu hết các quốc gia châu Á, các công ty lớn thường có cổ đông sở hữu một phần đáng kể vốn chủ sở hữu, chẳng hạn như các gia đình sáng lập (La Porta, Lopez-de-Silanes, và Shleifer, 1999).
Các cổ đông có quyền kiểm soát có thể quyết định những vấn đề về nhân sự quản lý, và thực tế các nhà quản lý thường đến từ gia đình có quyền kiểm soát. Do đó, vấn đề kiểm soát quản lý không là vấn đề nghiêm trọng như ở các quốc gia phát triển.