Chương 1: Tổng quan. Trong chương này tác giả sẽ làm rõ sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như đóng góp của đề tài. Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước. Phần này sẽ đưa ra một số lý thuyết về sở hữu nước ngoài và biến động lợi nhuận cổ phiếu.
Đồng thời, tác giả cũng lược khảo một số nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa sở hữu nước ngoài và biến động lợi nhuận cổ phiếu. 5 Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Tác giả tóm lược các mô hình và nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu cũng như mô tả các bước xử lý dữ liệu, tiến hành ước lượng và thực hiện kiểm định với phần mềm Stata 12. Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm.
Ở phần này, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu về tác động của sở hữu nước ngoài đến biến động lợi nhuận cổ phiếu. Chương 5: Kết luận. Ở phần này, tác giả đưa ra đóng góp về học thuật, gợi ý chính sách và hạn chế của đề tài. 6 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC Ở chương trước đã trình bày các vấn đề mà nghiên cứu này quan tâm, những mục tiêu, câu hỏi được đưa ra cần phải giải quyết được.
Để đạt được điều này, nghiên cứu cần phải dựa vào cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu trước đây. Do đó, trong chương này tác giả sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết được rút ra từ các nghiên cứu trước, bao gồm hai nội dung chính như sau: (1) Khung lý thuyết; (2) Tổng quan các nghiên cứu trước.1 Sở hữu nước ngoài Theo nghị định số 60/2015/NĐ-CP ban hành ngày 26/06/2015 của Chính Phủ, tỷ lệ sở hữu nước ngoài là tổng tỷ lệ sở hữu cổ phần, phần vốn góp có quyền biểu quyết của tất cả các nhà đầu tư là người nước ngoài và tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên. Trong đó, đầu tư nước ngoài là sự dịch chuyển tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu. Theo đó, luật đầu tư 2014 đưa ra các khái niệm sau: (1) Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.
(2) Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông. Hiện nay, các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam bao gồm: (1) Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế. (2) Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế. (3) Đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP.
(4) Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC. Nhà đầu tư nước ngoài khi tham gia vào thị trường trong nước sẽ được xem như là con dao hai lưỡi đối với thị trường nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng. Điểm mạnh của các nhà đầu tư nước ngoài là nguồn vốn, kỹ thuật công nghệ 7 hiện đại, nguồn nhân lực bản lĩnh và giàu kinh nghiệm. Trước khi nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào một công ty thì sẽ thu thập và xử lý thông tin liên quan đến công ty để sàn lọc lựa chọn công ty phù hợp nhất, nhà đầu tư nước ngoài sẽ lựa chọn và đánh giá các công ty theo các chỉ tiêu như: Chỉ tiêu tài chính, triển vọng công ty,.
Ngoài ra, nhà đầu tư còn quan tâm đến năng lực quản trị công ty, từ đó tạo động lực để cho các công ty trong nước nỗ lực cải thiện tài chính cũng như quản trị của doanh nghiệp. Khi dòng vốn nước ngoài được đầu tư vào công ty sẽ có những thuận lợi cũng như khó khăn mà công ty sẽ nhận được: + Thứ nhất, nhà đầu tư nước ngoài sẽ giúp doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu về vốn, nhân sự, kỹ thuật công nghệ,. đến các công ty mà họ đầu tư. Kết quả là việc phân bổ các nguồn lực có hiệu quả hơn, giúp giảm chi phí sử dụng vốn và nâng cao giá trị thị trường của cổ phiếu trong nước.
Từ đó giúp chia sẻ rủi ro thị trường chứng khoán trong nước thông qua đa dạng hóa toàn cầu. Chính đa dạng hóa toàn cầu sẽ làm tăng xác suất gặp phải rủi ro quốc tế của các doanh nghiệp trong nước, kết quả là sự liên kết hệ thống với các yếu tố quốc tế gây ra sự biến động lợi nhuận trên TTCK do ảnh hưởng các các yếu tố bất ổn trên thế giới như xung đột chính trị, chiến tranh, khủng bố, giá dầu biến động, chính sách của FED,. + Thứ hai, chính bản lĩnh, kinh nghiệm kết hợp kỹ năng thu thập và xử lý thông tin tốt của các nhà đầu tư nước ngoài giúp nâng cao chất lượng thông tin và do đó giảm chi phí giao dịch cũng như giảm thiểu rủi ro của thị trường. Nhưng không phải nhà đầu tư nước ngoài nào cũng đầu tư dài hạn vào công ty trong nước, mà còn có những nhà đầu tư nước ngoài chỉ dùng vốn để đầu tư ngắn hạn theo phương thức đầu cơ nhằm tìm kiếm lợi nhuận dựa vào sự chênh lệch về giá, chính sự biến động của dòng chảy nước ngoài (sự chảy mạnh của dòng vốn vào và sự rút vốn đồng loạt để chốt lời) sẽ gây ra các biến động, thậm chí là khủng hoảng trên thị trường tài chính.
+ Thứ ba, những nhà đầu tư nước ngoài có tiềm lực tài chính mạnh, do đó sẽ làm giảm nguy cơ vỡ nợ của các công ty mà họ đầu tư. Nhưng nhà đầu tư nước ngoài được cho là có kiến thức và kỹ năng vượt trội khi tham gia vào thị trường 8 trong nước, bởi lẽ nhà đầu tư nước ngoài có thể tận dụng ưu thế về kinh nghiệm và nguồn vốn lớn mạnh để tạo ra các luồn thông tin không chính xác, bóp méo giá cả cung cầu trên thị trường, tạo ra các đợt sốt giá ảo, khiến nhà đầu tư trong nước bị sai lầm khi thực hiện quyết định đầu tư dẫn đến những thiệt hại đáng kể. Từ những phân tích trên, đối với TTCK Việt Nam tác giả kỳ vọng sở hữu nước ngoài sẽ làm giảm biến động lợi nhuận cổ phiếu, giúp làm ổn định thị trường chứng khoán và mang tính tích cực.2 Biến động lợi nhuận cổ phiếu Biến động lợi nhuận cổ phiếu hàng ngày hay tốc độ lợi nhuận cho biết mức tăng trưởng lợi nhuận tương đối (tính theo phần trăm) hàng ngày. Tỷ lệ này nhỏ hơn không đồng nghĩa với tăng trưởng âm.
Trường hợp lợi nhuận của một trong số các kỳ trước kỳ hiện tại bằng không thì biến động lợi nhuận cổ phiếu hàng ngày là không xác định. Công thức tính biến động lợi nhuận cổ phiếu hàng ngày như sau: returni,t = Do đó, thị trường chứng khoán được xem là ổn định khi lợi nhuận chứng khoán hàng ngày ít biến động hay nói cách khác giá cổ phiếu sẽ ít biến động. Giá cổ phiếu sẽ bị tác động bởi một số lý thuyết sau đây: Lý thuyết hiệu ứng khách hàng: Giá cổ phiếu của công ty sẽ bị tác động bởi động thái mua/bán cổ phiếu của các nhà đầu tư trên thị trường. Động thái này dựa vào những thay đổi của công ty (thay đổi về chính sách công ty, thay đổi về cổ tức hay thuế) khi đó các nhà đầu tư sẽ thay đổi số lượng cổ phiếu nắm giữ sao cho phù hợp.
Kết quả của sự điều chỉnh này sẽ làm giá cổ phiếu sẽ thay đổi. Giao dịch phản hồi (Feedback trading): Giao dịch phản hồi là những giao dịch dựa trên cơ sở giá lịch sử. Theo Grinblatt, Mark, Sheridan Titman, Russ Wermers (1995), giao dịch phản hồi bao gồm giao dịch phản hồi tích cực và tiêu cực. Giao dịch phản hồi tích cực (Positive feedback trading) là giao dịch mà nhà 9 đầu tư mua các cổ phiếu có biến động lợi nhuận theo chiều hướng tăng (Positive) trong năm trước.
Giao dịch phản hồi tiêu cực (Negative feedback trading) là giao dịch mà nhà đầu tư mua các cổ phiếu có biến động lợi nhuận theo chiều hướng giảm (Negative) trong năm trước. Sự gia tăng đầu tư: Các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư giống nhau làm cho tỷ lệ sở hữu tăng. Tại sao các nhà đầu tư lại gia tăng đầu tư theo các quyết định giống nhau? Những lý thuyết về tài chính cung cấp một vài giải thích vì sao các nhà đầu tư lại có thể liên hệ với nhau để tạo thành nhóm. Wermer (1999) đã đưa ra bốn lý do như sau: + Thứ nhất, rủi ro xấu sẽ phát sinh khi các nhà đầu tư có hành động khác với những nhà đầu tư khác, với những kết quả khác nhau, để các nhà đầu tư bỏ qua những thông tin riêng và giao dịch với đám đông (Sharfstein & Stein, 1990) để đảm bảo những kết quả tốt hơn.
+ Thứ hai, những nhà đầu tư có thể nhận thông tin riêng là giống nhau bởi vì họ phân tích những yếu tố giá như nhau (Froot, Scharfstein, & Stein, 1992; Hirshleifer, Subrahmanyam,& Titman, 1994). + Thứ ba, Wermers cho thấy các nhà đầu tư dự đoán thông tin riêng từ những giao dịch của các nhà đầu tư khác, dẫn đến kết quả là các thông tin suy đoán (Informaton cascades) giống nhau (Bihkchandani, Hirshleifer,& Welch, 1992; Avery & Zemsky, 1998). + Cuối cùng, các nhà đầu tư có thể chia sẻ những điều mình ghét như nhau đối với những chứng khoán có những đặc điểm cụ thể, ví dụ thanh khoản thấp hoặc rủi ro cao (Falkenstein, 1996).2 Tổng quan các nghiên cứu trƣớc Sở hữu nước ngoài và biến động lợi nhuận cổ phiếu đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và mối quan hệ này chưa đồng nhất ở mỗi quốc gia, cũng như mỗi giai đoạn. Sau đây tác giả sẽ lược khảo một số nghiên cứu.
Nghiên cứu đầu tiên về sở hữu nước ngoài và biến động lợi nhuận cổ phiếu là nghiên cứu của Lakonishok cùng đồng sự (1992). Nhóm tác giả đã phát triển mô hình đầu tiên để kiểm tra liệu các tổ chức gia tăng đầu tư sẽ tạo ra những bất ổn tiềm ẩn trong giá chứng khoán hay không. Nhóm tác giả sử dụng mẫu nghiên cứu là các quỹ trợ cấp, họ tìm thấy rằng có hai khía cạnh chính trong giao dịch của các nhà quản lý tổ chức là hành vi gia tăng đầu tư và giao dịch phản hồi tích cực. Kết quả nghiên cứu đã không tìm thấy bằng chứng về sự gia tăng đầu tư của tổ chức sẽ gia tăng những bất ổn trong giá chứng khoán.