chương 1, tác giả giới thiệu vì sao tác giả chọn đề tài tác động của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam để làm nghiên cứu. Từ vấn đề nghiên cứu tác giả đưa ra các mục tiêu nghiên cứu cụ thể để làm nền tảng cho việc tìm hiểu cơ sở lý thuyết liên quan và lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp trong những chương tiếp theo. Ngoài ra, trong chương này tác giả cũng trình bày phạm vi, đối tượng đề tài tiến hành nghiên cứu và các phương pháp sử dụng nghiên cứu. 4 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Tổng quan lý thuyết 2.1 Vốn luân chuyển Vốn luân chuyển tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là ở doanh nghiệp thương mại, vốn luân chuyển chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn bộ vốn sản xuất kinh doanh.( Bùi Hữu Phước, 2009.) Vốn luân chuyển theo nghĩa rộng là giá trị của toàn bộ tài sản lưu động, là những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của công ty.
Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, chúng chuyển hóa qua tất cả các dạng tồn tại từ tiền mặt đến tồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái cơ bản ban đầu là tiền mặt. Với sự chuyển hóa nhanh như vậy, các hoạt động quản trị vốn luân chuyển chiếm gần như phần lớn thời gian và tâm trí của các nhà quản trị tài chính. Nhiệm vụ đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn cho vốn luân chuyển là yếu tố thúc đẩy sự chuyển hóa nhanh chóng giữa các hình thái tồn tại cơ bản của tài sản lưu động để liên tục sản sinh ra ngân quỹ.2 Các thành phần của vốn luân chuyển Vốn luân chuyển bao gồm tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm tiền, đầu tư tài chính, hàng tồn kho và khoản phải thu.( Thông tư 133/2016/TT-BTC) - Khoản phải thu: khoản phải thu là số tiền mà khách hàng nợ lại doanh nghiệp do mua chịu hàng hóa hoặc dịch vụ.
Đây là một tài sản lưu động quan trọng trong vốn luân chuyển. Khoản phải thu bao gồm cả tín dụng thương mại và tín dụng tiêu dùng. Khi một công ty bán hàng cho một công ty khác thì thường không nhận tiền ngay, những hóa đơn chưa thanh toán này là tín dụng thương mại chiếm phần lớn khoản phải thu. Các công ty bán lẻ bán chịu hàng cho người tiêu dùng là tín dụng cho người tiêu dùng.
- Hàng tồn kho là tất cả những nguồn lực dự trữ nhằm đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và bán hàng ở hiện tại hoặc tương lại. Hàng tồn kho có thể gồm nguyên liệu, sản phẩm dỡ dang, thành phẩm, hàng hóa ( chờ bán và đang vận chuyển). Trong 5 một doanh nghiệp, hàng tồn kho bao giờ cũng là một trong những tài sản có giá trị lớn trên tổng tài sản của doanh nghiệp đó. Khi các doanh nghiệp dự trữ hàng tồn kho không chỉ bao gồm chi phí lưu trữ và rủi ro sản phảm hư hỏng, lỗi thời mà còn phải kể đến chi phí cơ hội của vốn-khả năng sinh lời từ các cơ hội đầu tư khác.
Chính vì thế, kiểm soát hàng tồn kho luôn là một vấn đề hết sức cần thiết trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. - Ngoài ra tài sản lưu động còn bao gồm tiềnvà đầu tư tài chính. Tiền mặt được hiểu là những thứ có thể được sử dụng trực tiếp để thanh toán các giao dịch và bao gồm cả tiền gửi ở ngân hàng. Đầu tư tài chính bao gồm chứng khoán kinh doanh và đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn.
Nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn là khoản phải trả người bán và khoản vay ngân hàng. - Khoản phải trả là nghiã vụ mà doanh nghiệp phải trả số nợ ngắn hạn của mình cho nhà cung cấp. Đây là khoản tín dụng thương mại mà doanh nghiệp nhận được từ nhà cung cấp, việc trì hoãn thanh toán được xem là nguồn tài trợ ngắn hạn ít tốn kém chi phí sử dụng vốn. - Khoản vay ngân hàng: ngoài khoản nợ phải trả cho người bán để tài trợ cho nhu cầu đầu tư vào tài sản lưu động, các doanh nghiệp còn trông cậy vào những khoản vay ngắn hạn từ các ngân hàng.
Khi nhu cầu tài chính gia tăng, doanh nghiệp sẽ nhờ đến sự tài trợ của ngân hàng thương mại để tăng nguồn vốn. Các ngân hàng thương mại thường là nguồn cung cấp lớn khoản vay này cho các doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể vay ở kho bạc nhà nước, công ty tài chính, công ty bảo hiểm hay quỹ đầu tư phát triển. Nhiều khoản vay ngắn hạn thường không được đảm bảo nhưng đôi khi doanh nghiệp có thể đưa ra hàng tồn kho hay các khoản phải thu làm thế chấp.3 Quản trị vốn luân chuyển Quản trị vốn luân chuyển là việc hoạch định và kiểm soát một cách chặt chẽ các loại tài sản lưu động và các khoản nợ ngắn hạn.
Điều đó có nghĩa là việc quản trị vốn luân chuyển sẽ bao gồm nghiên cứu, đưa ra các chính sách, kiểm tra và kiểm soát, thực hiện các chính sách có liên quan tới các loại tài sản lưu động ( tiền, hàng tồn kho, các khoản phải thu) và các khoản nợ ngắn hạn của doanh 6 nghiệp nhằm tối đa hóa giá trị tài sản cho chủ sở hữu.Vũ Duy Hào, 2002) Mọi hoạt động kinh tế hàng ngày phát sinh ở doanh nghiệp đều có liên quan đến vốn luân chuyển, đều trực tiếp làm vốn luân chuyển thay đổi. Vì vậy quản lý tốt vốn luân chuyển có ý nghĩa quyết định đến việc hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả vốn, tăng tích lũy cho doanh nghiệp (Bùi Hữu Phước, 2009). Quản trị vốn luân chuyển bao gồm việc quyết định các thành phần của vốn luân chuyển là mức tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồn kho hợp lý và cách thức tài trợ cho chúng sao cho chi phí là nhỏ nhất. Quản trị vốn luân chuyển có vai trò quan trọng, không những ảnh hưởng đến khả năng sinh lời mà còn ảnh hưởng đến tính thanh khoản của doanh nghiệp (Raheman & Nasr, 2007).
Đầu tư nhiều vào vốn luân chuyển có thể làm giảm rủi ro thanh khoản, nhưng đầu tư quá nhiều vốn luân chuyển sẽ làm tăng chi phí cơ hội của đầu tư, đặc biệt khi doanh nghiệp phải dùng nguồn vốn từ bên ngoài để tài trợ cho vốn luân chuyển. Vì vậy, quản trị vốn luân chuyển là một phần rất quan trọng trong quản trị tài chính doanh nghiệp vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến tính thanh khoản và khả năng sinh lời của doanh nghiệp (Deloof,2003; Eljelly,2004; Raheman & Nasr,2007). Quản trị vốn luân chuyển với mục tiêu chính là đảm bảo đủ dòng tiền để công ty duy trì hoạt động kinh doanh một cách bình thường trên cơ sở giảm thiểu rủi ro mất khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính trong ngắn hạn. Một trong những chỉ tiêu phổ biến đo lường hiệu quả quản trị vốn luân chuyển là chu kỳ luân chuyển tiền mặt (Cash Conversion Cycle - CCC) (Deloof, 2003).
Chu kỳ luân chuyển tiền mặt đo lường khoảng thời gian từ lúc công ty mua nguyên liệu,chuyển sang thành phẩm, bán sản phẩm và thu tiền khoản phải thu. Con số này càng cao, thì lượng tiền mặt của doanh nghiệp càng khan hiếm cho hoạt động sản xuất kinh doanh và cho các hoạt động khác như đầu tư. Nếu con số này nhỏ sẽ được coi là khả năng quản lý vốn luân chuyển tốt. Ngược lại, 7 con số này lớn có thể được giải thích là: doanh nghiệp phải thuê thêm vốn trong khi vẫn phải chờ khách hàng trả nợ tiền hàng cho mình.
Chu kỳ luân Kỳ thu tiền Kỳ luân Kỳ thanh toán chuyển tiền bình quân + chuyển hàng - bình quân (RCP) tồn kho (PDP) = mặt (CCC) (ICP) Trong đó: Kỳ thu tiền bình quân (RCP) là số ngày từ khi bán hàng cho đến khi thu xong tiền khách hàng. 𝐾ℎ𝑜ả𝑛 𝑝ℎả𝑖 𝑡ℎ𝑢 Kỳ thu tiền bình quân x 365 ngày (RCP)= 𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 Kỳ luân chuyển hàng tồn kho (ICP) là khoảng thời gian trung bình cần thiết 𝐻à𝑛𝑔 𝑡ồ𝑛 𝑘ℎ𝑜 để chuyển đổi nguyên vật liệu thô sang thành phẩm và bán những sản phẩm này. 𝐺𝑖á 𝑣ố𝑛 ℎà𝑛𝑔 𝑏á𝑛 Kỳ luân chuyển hàng tồn kho (ICP) = x365 ngày Kỳ thanh toán bình quân (PDP) là khoản thời gian trung bình từ khi mua hàng hóa cho tới khi trả hết tiền cho người bán. 𝐾ℎ𝑜ả𝑛 𝑝ℎả𝑖 𝑡𝑟ả 𝑛𝑔ườ𝑖 𝑏á𝑛 𝐺𝑖á 𝑣ố𝑛 ℎà𝑛𝑔 Kỳ thanh toán bình quân x365 ngày 𝑏á𝑛 (PDP)= Mối quan hệ giữa chu kỳ luân chuyển tiền mặt và chu kỳ kinh doanh được trình bày trong hình 2.1 Mua hàng tồn Bán hàng kho tồn kho Kỳ lưu hàng tồn kho Kỳ thu tiền khoản phải thu Thời gian Kỳ phải trả người bán Chu kỳ luân chuyển tiền Trả tiền mua hàng Nhận tiền mặt tồn kho Chu kỳ kinh doanh Hình 2.1:Chu kỳ luân chuyển tiền mặt(CCC) và chu kỳ kinh doanh 8 (OC) 9 Nguồn: Ross, Westerfield, Jaffe, “Corporrate Finance” McGraw Hill, 6 t Edition, 2002.
Vốn luân chuyển trong doanh nghiệp gồm nhiều loại khác nhau, tính chất và đặc điểm vận động cũng khác nhau nên cần phải tiến hành quản lý theo từng loại. Dựa trên chỉ tiêu đo lường hiệu quả quản trị vốn luân chuyển là chu kỳ luân chuyển tiền, doanh nghiệp cần phải tiến hành quản trị: khoản phải thu, hàng tồn kho, khoản phải trả. Quản trị khoản phải thu Trong doanh nghiệp, các khoản phải thu bao gồm: phải thu của khách hàng, phải thu nội bộ, thế chấp, ký quỹ, tạm ứng, trả trước cho người bán,. Trong đó, chiếm tỷ trọng cao nhất là khoản phải thu khách hàng.
Như vậy, để quản trị khoản phải thu khách hàng doanh nghiệp nên chú trọng vào bốn vấn đề sau đây: xây dựng chính sách bán chịu hợp lý, ra quyết định bán chịu, theo dõi khoản phải thu khách hàng để đôn đốc thu hồi nợ đúng hạn, chính sách thu tiền. - Xây dựng chính sách bán chịu hợp lý: liên quan đến chính sách bán chịu DN sẽ lầnlượt xem xét đến các vấn đề như: tiêu chuẩn bán chịu, điều khoản bán chịu, hạn mức tíndụng và xác định giá bán chịu. + Tiêu chuẩn bán chịu: Doanh nghiệp xây dựng tiêu chuẩn tối thiểu về mặt uy tín tín dụng của khách hàng để được DN chấp nhận bán chịu hàng hóa hay dịch vụ. Tiêu chuẩn bán chịu được DN đưa ra dựa vào thái độ và hành vi của khách hàng trong việc trả nợ, khả năng tài chính của khách hàng, tài sản thề chấp, tình hình kinh tế chung.Tùy thuộc vào mục tiêu và khả năng tài chính của DN mà DN đưa ra tiêu chuẩn bán chịu phù hợp.