Chương 1: Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
- Chương 5: Kết luận. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Cơ sở lý thuyết Tài chính doanh nghiệp và cấu trúc vi mô của thị trường (market microstructure) là hai lĩnh vực quan trọng trong lý thuyết tài chính. Hai lĩnh vực này đã được phát triển riêng biệt rất tốt, tuy nhiên chúng hiếm khi được liên kết với nhau.
Bài nghiên cứu này được thực hiện để liên kết hai lĩnh vực trên với nhau. Mối quan hệ giữa bất cân xứng thông tin và tính thanh khoản Cấu trúc vi mô của thị trường nghiên cứu về lý thuyết, thực nghiệm và thực tiễn về tính kinh tế của thị trường chứng khoán, bao gồm vai trò của thông tin trong quá trình định giá; định nghĩa, phương pháp đo lường, kiểm soát và các yếu tố quyết định tính thanh khoản và chi phí giao dịch, tác động của chúng đối với sự hiệu quả, phúc lợi và quy định của cơ chế giao dịch thay thế và cấu trúc thị trường (National Bureau of Economic Research). Lý thuyết cấu trúc vi mô của thị trường nhấn mạnh tầm quan trọng của tính thanh khoản trong các thị trường tài chính, cũng như cung cấp sự hiểu biết về một số nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản như quy mô công ty, sự biến động tỷ suất sinh lợi, khối lượng giao dịch,… Bên cạnh đó, lý thuyết này cũng chỉ ra rằng tính thanh khoản sẽ tăng khi bất cân xứng thông tin giảm. Mối quan hệ giữa quản trị công ty và bất cân xứng thông tin Một số lý thuyết về quản trị công ty thuộc lĩnh vực tài chính doanh nghiệp chỉ ra mối quan hệ giữa quản trị công ty và vấn đề bất cân xứng thông tin, đó là các lý thuyết: lý thuyết đại diện (theory of agency) (Jensen & Meckling, 1976), lý thuyết ngăn chặn (theory of entrenchment) (Sheleifer & Vishny, 1989) và lý thuyết quản lý (stewardship theory) (Davis và cộng sự, 1976).
- Lý thuyết đại diện (Jensen & Meckling, 1976): LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Lý thuyết đại diện của Jensen và Meckling (1976) là một trong những lý thuyết quản trị được sử dụng nhiều nhất. Sự phổ biến của lý thuyết đại diện trong các nghiên cứu về quản trị công ty có thể là do hai yếu tố: Thứ nhất, nó là một lý thuyết cực kỳ đơn giản, trong đó các công ty lớn được cho là có hai nhóm người: nhà quản lý và các cổ đông, và lợi ích của mỗi bên được giả định là rõ ràng và nhất quán. Thứ hai, quan niệm về con người thường quan tâm đến lợi ích cá nhân và không muốn hi sinh lợi ích cá nhân vì người khác thì đều có lâu đời và phổ biến. Lý thuyết đại diện cho rằng lợi ích của các nhà quản lý và lợi ích của các cổ đông thường xuyên mâu thuẫn với nhau, do đó giữa họ cũng nảy sinh các mâu thuẫn.
Điều này xảy ra là vì các nhà quản lý có xu hướng cố gắng ưu tiên cho các lợi ích cá nhân hơn là cố gắng làm tối đa hóa giá trị thị trường của công ty. Các nhà quản lý có thể làm được như vậy là do: thứ nhất, sự bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và các nhóm đối tượng hưởng lợi còn lại, nhà quản lý dễ dàng nhận biết được tình huống nào, hợp đồng nào, đối tác nào sẽ đem lại nguồn lợi và nhà quản lý có khả năng đưa lợi ích đó ra khỏi hoạt động của công ty; thứ hai, sự không chắc chắn về những vấn đề có thể xảy ra trong quá trình điều hành công ty hàng ngày, với hàng ngàn nhân tố góp phần tạo nên lợi nhuận cho công ty, việc một công ty mang lại lợi nhuận cao hay lỗ trong kỳ kinh doanh chịu nhiều ảnh hưởng của thị trường, do vậy các nhà quản lý có thể kiểm soát được các yếu tố đó hay không là do năng lực và cả sự may mắn của họ, đây là một điều khó có thể xác định được một cách rõ ràng. Các cổ đông có thể không thích những lợi ích cá nhân của các nhà quản lý vì nó sẽ làm gia tăng chi phí cho công ty, đồng thời nó cũng làm giảm những lợi ích mà công ty có thể nhận được. Khi quyền sở hữu và quản lý của một công ty được tách biệt, vấn đề đại diện sẽ xuất hiện, và các công ty phải gánh chịu chi phí đại diện để làm giảm những vấn đề đại diện đó.
Lý thuyết đại diện cho rằng có hai lựa chọn để làm giảm vấn đề đại diện, cả hai cách đều có thể hạn chế hành vi chủ nghĩa cơ hội của nhà quản lý. Đầu tiên là tạo ra một cấu trúc quản trị có thể giám sát và đánh giá hành vi thực sự của nhà quản lý. Cấu trúc này có thể bao gồm: các thủ tục báo cáo, tăng thêm việc quản lý hay sự hiện diện của một hội đồng quản trị. Thứ hai là tạo nên một cấu trúc quản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 trị nơi mà hợp đồng được dựa trên thành quả thực tế của các nhà quản lý.
Một ví dụ của loại cấu trúc này là các khoản thưởng khích lệ cho việc đạt được thành quả tốt. - Lý thuyết ngăn chặn (theory of entrenchment) (Sheleifer & Vishny, 1989): Sheleifer và Vishny (1989) đã mô tả cách thức mà các nhà quản lý có thể thực hiện các đầu tư đặc biệt để gia tăng giá trị của họ đối với các cổ đông. Bằng cách thực hiện các đầu tư đó, các nhà quản lý có thể làm giảm khả năng bị thay thế, nhận được mức lương cao hơn và thưởng lớn hơn từ các cổ đông và đạt được quyền lực lớn hơn trong việc xác định chiến lược của công ty. Lý thuyết này cho thấy rằng một người quản lý có động cơ đầu tư các nguồn lực của công ty vào các tài sản có giá trị cao hơn theo họ nghĩ hơn là theo một nhà quản lý tốt nhất nghĩ, ngay cả khi việc đầu tư đó không làm tối đa hóa giá trị công ty.
Lý thuyết cũng đưa ra một số cơ chế quản trị để ngăn chặn tình trạng này của các nhà quản lý, các công ty có thể sử dụng cơ chế phân phối vốn, cụ thể hội đồng quản trị phân phối tỷ lệ quỹ đầu tư cho các đề xuất của các giám đốc điều hành, việc phân phối vốn có thể cắt giảm một số khoản đầu tư có giá trị hiện tại ròng âm của các nhà quản lý. Nó cũng làm chậm tốc độ đầu tư, do đó hiệu quả của một nhà quản lý có thể được quan sát trước khi họ được phép đầu tư nhiều hơn. Một cách khác để ngăn chặn hiện tượng ngăn chặn của nhà quản lý (entrenching manager) là chọn đúng các nhà quản lý ngay tại thời điểm ban đầu. Ví dụ, hội đồng quản trị có thể kiểm soát sự lựa chọn các khoản đầu tư của các nhà quả lý như trên thông qua sự lựa chọn giám đốc điều hành kế tiếp.
Để lựa chọn một giám đốc điều hành là chọn một tập hợp các khả năng và các khả năng đó liên quan đến các đặc tính của các khoản đầu tư. - Lý thuyết quản lý (stewardship theory) (Davis và cộng sự, 1976): Hầu hết các lý thuyết về quản trị công ty sử dụng lợi ích cá nhân như là một điểm bắt đầu. Tuy nhiên, lý thuyết quản lý lại bác bỏ sự tư lợi cá nhân. Theo lý thuyết quản lý, các nhà quản lý tìm kiếm những thứ khác ngoài lợi ích tài chính.
Những thứ đó có thể là cảm giác có giá trị, một danh tiếng tốt, một công việc được thực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 hiện tốt, một cảm giác hài lòng và ý thức được mục tiêu. Lý thuyết quản lý cho rằng nhà quản lý vốn đã tìm cách làm tốt công việc, tối đa hóa lợi nhuận của công ty và mang lại lợi nhuận tốt cho các cổ đông. Họ không nhất thiết phải làm những điều đó vì lợi ích của bản thân không có, nhưng vì họ cảm thấy một trách nhiệm mạnh mẽ đối với công ty. Các cá nhân ở vị trí quản lý chủ yếu không tự coi mình như những cá nhân bị cô lập.
Thay vào đó, họ tự coi mình là một phần của công ty, các nhà quản lý kết hợp cái tôi và ý thức giá trị của mình với danh tiếng của công ty. Lý thuyết này đề cập đến vấn đề động lực của những nhà quản lý và cho rằng thành quả công ty khác nhau là do tình trạng cấu trúc quản trị, trong đó giám đốc điều hành có được tạo điều kiện để làm việc hiệu quả hay không. Cụ thể, liên quan đến vai trò của giám đốc điều hành, cấu trúc quản trị có thể hỗ trợ họ đạt được năng suất làm việc cao nhất phải đảm bảo vai trò của họ không mơ hồ và quyết định không bị chi phối bởi cấp cao hơn. Trường hợp này có thể đạt được khi Chủ tịch hội đồng quản trị kiêm giám đốc điều hành, quyền lực được tập trung chỉ trong một người.
Tương tự, việc quản trị và điều hành công ty sẽ trở nên rõ ràng và phù hợp hơn cho cả những người quản lý cấp dưới và các thành viên khác của hội đồng quản trị công ty do sự chỉ đạo thống nhất, rõ ràng ngay từ cấp cao nhất. Như vậy, lý thuyết quản lý không chỉ tập trung thúc đẩy giám đốc điều hành mà còn nâng cao vị thế giám đốc điều hành vì cho rằng sự hợp nhất trách nhiệm giữa Chủ tịch hội đồng quản trị và giám đốc điều hành sẽ nâng cao thành quả tài chính của công ty cũng như làm giảm vấn đề bất cân xứng thông tin. Từ đó, lợi ích của cổ đông sẽ cao hơn trường hợp tách biệt Chủ tịch hội đồng quản trị - giám đốc điều hành. Dựa trên nền tảng của ba lý thuyết trên, quản trị công ty ra đời như một hệ quả tất yếu để giải quyết vấn đề bất cân xứng thông tin giữa các nhà quản lý và các cổ đông của công ty.
Quản trị công ty bao gồm việc kiểm soát và tồn tại các tiến trình để đảm bảo rằng các hoạt động quản lý mang lại lợi ích cho các cổ đông.