ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, tôm Thẻ chân trắng, Litopenaeus vannamei là một trong những đối tượng thủy sản chủ lực của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Theo VASEP (2020), diện tích tôm thả nuôi tính đến tháng 11/2019 ước đạt 725.900 ha (đạt 99,43% so với kế hoạch năm 2020), trong đó tôm Thẻ chân trắng thả nuôi là 109. Sản lượng thu hoạch ước đạt 790.564 tấn (đạt 95,24% so với kế hoạch năm 2020) thì trong đó tôm Thẻ chân trắng đạt 536. Diện tích nuôi tập trung ở các tỉnh ven biển như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh và Kiên Giang với các mô hình khác nhau, trong đó mô hình thâm canh và siêu thâm canh đang có khuynh hướng phát triển trong những năm gần đây.
Cụ thể, Cà Mau có 2.020 ha nuôi tôm siêu thâm canh và 10.290 ha nuôi thâm canh, Bạc Liêu có 1.845 ha nuôi tôm siêu thâm canh. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh về diện tích và sản lượng dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước và sự bùng phát dịch bệnh. Trong đó, các bệnh do vi khuẩn và vi-rút được đánh giá gây ảnh hưởng nặng nề nhất (Huynh và cs, 2011; Đặng Thị Hoàng Oanh và Nguyễn Thanh Phương, 2012). Để phòng và trị bệnh trên tôm nuôi người ta thường sử dụng thuốc kháng sinh hay hóa chất.
Tuy nhiên, việc sử dụng không đúng cách hay quá liều các loại thuốc kháng sinh đã gây nên hiện tượng kháng thuốc làm cho việc chữa trị không có hiệu quả hoặc rất thấp, sản phẩm không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Hiện nay, xu hướng mới trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng là sử dụng những chế phẩm sinh học, dược liệu có nguồn gốc từ thiên nhiên có tác dụng trị được bệnh trên tôm đồng thời đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm lẫn môi trường (Haniffa và cs, 2013). Nhiều công trình nghiên cứu về việc bổ sung các chất chiết xuất từ dược liệu vào thức ăn nhằm cải thiện sức khỏe tôm, nâng cao sức sống và tăng trưởng của tôm, hạn chế dùng thuốc kháng sinh trong quá trình nuôi đã được thực hiện (Rengpipat và cs, 2000; Lin và cs, 2011). Một số nghiên cứu sử dụng những sản phẩm từ chế phẩm sinh học như sử dụng prebiotic đã được sử dụng trên thủy sản như Fructooligosaccharide (FOS) là một trong những nguồn prebiotic quan trọng được sử dụng trên nhiều loài cá nuôi như Pesetta maxima (Mahious và cs, 2006), Sciaenop ocellatus (Buentello và cs, 2010), Larimichthys crocea (Ai và cs, 2011), Rutilus rutilus (Soleimani và cs., 2012) và Acipenser stellatus (Akrami và cs., 2013), việc sử dụng preiotic trên tôm chưa thấy nghiên cứu phổ biến nhiều.
Từ những vấn đề trên thì nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung prebiotic lên khả năng miễn dịch của tôm Thẻ chân trắng được thực hiện nhằm đáp ứng vào thực tiễn sản xuất.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Chuyên đề nhằm đánh giá tỷ lệ sống và xem xét khả năng đáp ứng miễn dịch của tôm Thẻ chân trắng khi cho ăn thức ăn có bổ sung prebiotic. Kết quả đánh giá thông qua các hoạt tính miễn dịch của tôm Thẻ chân trắng như hoạt tính 1 respiratory burst (RES), hoạt tính của Phenoloxidase (PO), superoxide dismutase và tổng tế bào bạch cầu (TBBC) khi tôm được cảm nhiễm vi khuẩn Vibrio prahaemolytycus 1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Tôm Thẻ chân trắng giống mua tại trại giống của Cần Thơ, có khối lượng trung bình khoảng 8 g/con Prebiotic bao gồm Lactobacillus plantarum gây sốc với CO2, Lactobacillus plantarum gây sốc với nhiệt độ và Lactobacillus plantarum sản phẩm thương mại của Nhật Bản 1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU - Khảo sát đáp ứng miễn dịch của tôm Thẻ chân trắng thông qua việc xác định tổng số bạch cầu, xác định hoạt tính Phenoloxidase (PO), xác định hoạt tính respiratory burst (RES), và họat tính của superoxide dismutase. - Xác định TLS của tôm khi cho ăn thức ăn có bổ sung prebiotc - Xác định tốc độ tăng trưởng của tôm Thẻ chân trắng khi cho ăn thức ăn có bổ sung prebiotic 1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI Kết quả chuyên đề này được bổ sung prebiotic khi phối trộn với thức ăn sẽ đánh giá được đáp ứng miễn dịch của tôm Thẻ chân trắng, giúp cho tôm tăng trưởng tốt và giảm sự hao hụt trong quá trình nuôi. CHƯƠNG 2 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 GIỚI THIỆU VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Nhằm kiểm tra sự miễn dịch của tôm Thẻ chân trắng nên đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung prebioitc chiết xuất từ Lactobacillus plantarum lên khả năng miễn dịch của tôm Thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei)” được thực hiện.2 PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG 2.1 Phân loại Theo hệ thống phân loại ITIS (itis.gov) tôm Thẻ chân trắng được phân loại như sau: Giới Animalia Ngành Arthropoda Lớp Malacostraca Bộ Decapoda Họ Penaeidae Giống Litopenaeus Loài Litopenaeus vannamei (Boone, 1931) Tên tiếng anh: White Leg shrimp Tên tiếng việt: Tôm Thẻ chân trắng Hình 2: Tôm Thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) 2.2 Đặc điểm sinh học 3 2.1 Đặc điểm hình thái 2.2 Đặc điểm dinh dưỡng Tôm Thẻ chân trắng là loài ăn tạp thiên về động vật, cường độ bắt mồi khỏe và sử dụng được nhiều loại thức ăn tự nhiên có kích cỡ phù hợp với mùn bã hữu cơ đến các động vật, thực vật thủy sinh.
Nhờ tính ăn tạp, bắt mồi khỏe, linh hoạt, nên khả năng bắt mồi gần như nhau, vì thế tôm nuôi tăng trưởng khá đồng đều, ít bị phân đàn (Trần Viết Mỹ, 2009). Tôm Thẻ chân trắng sử dụng thức ăn đối với thức ăn công nghiệp thì cần hàm lượng protein tương đối thấp khoảng 35% nên giá trị thức ăn thường thấp hơn tôm sú. Tốc độ tăng trưởng nhanh: sau 180 ngày thả tôm bột chúng có thể đạt 40 g/con (Thái Bá Hồ, Ngô Trọng Lư, 2003). Nhu cầu hàm lượng protein của tôm Thẻ chân trắng (30 – 35%) thấp hơn so với tôm sú.
Khả năng chuyển hóa thức ăn cũng rất cao, trong điều kiện nuôi thâm canh, hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) dao động từ 1,1 – 1,3, do đó có thể giảm chi phí thức ăn. Tôm có tốc độ tăng trưởng nhanh, trong điều kiện nuôi với môi trường thích hợp, tôm có khả năng đạt 8 – 10g trong 60 – 80 ngày (Trần Viết Mỹ, 2009). Tôm có tập tính hoạt động mạnh vào ban đêm, khi nhiệt độ tăng khả năng bắt mồi tăng, đặc biệt vào ban ngày tôm trong môi trường nuôi nhân tạo với nhiệt độ cao thì tôm kết thành đàn. Cũng như tôm sú, tôm Thẻ chân trắng bắt mồi nhờ cơ quan xúc giác nằm ở đầu mút của râu, phụ bộ miệng và càng (Nguyễn Khắc Thường, 2007) 2.3 Đặc điểm sinh trưởng Trong quá trình lớn lên, tôm trải qua nhiều lần lột xác, tôm Thẻ chân trắng lột xác thường vào ban đêm, thời gian giữa 2 lần lột xác phụ thuộc vào kích cỡ tôm: ở giai đoạn ấu trùng, cứ khoảng 30 – 40 phút thì lột xác một lần (28 oC), với trọng lượng từ 1 – 5 g/con thì 4 – 6 ngày lột xác một lần và trọng lượng 15 g/con có thể 2 tuần mới lột xác một lần, thời gian giữa 2 lần lột xác tăng dần theo tuổi tôm (Trần Viết Mỹ, 2009).
Ngoài ra, các yếu tố như điều kiện môi trường, dinh dưỡng cũng ảnh hưởng đến tần số lột xác của tôm: trong điều kiện môi trường có nhiệt độ nước cao thì tần số lột xác của tôm tăng (Wyban & Sweeney, 1991). Tôm sau khi lột xác, vỏ tôm còn mềm nên thường rất nhạy cảm với các điều kiện môi trường, vì vậy trong quá trình nuôi cần chú ý điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp (Thái Bá Hồ và Ngô Trọng Lư, 2006).4 Đặc điểm sinh sản Ở phần đầu ngực có màu trắng đục , có thể nhìn thấy màu sắc của trứng. Ở con cái buồng trứng đầu tiên có màu trắng đục sau đó chuyển’thành màu vàng nâu hoặc xanh nâu trong những ngày đẻ trứng. Tôm đực có nhiệm vụ đưa các túi tinh vào túi chứa tinh của con cái ; Con cái sẽ đẻ sau vài giờ.
Sự quấn quít nhau giữa con đực và cái bắt đầu vào buổi chiều và có liên quan chặt chẽ với cường độ ánh sáng. Sự phân cắt của trứng diễn ra chủ yếu ở thời gian đẻ. Quá trình để được bắt đầu bằng sự nhảy lên đột ngột và bơi nhanh của con cái , quá trình này chỉ diễn ra trong khoảng 1 phút. Phản ứng của lớp vỏ xảy ra rất nhanh và 4 sự phản đối đầu tiên diễn ra trong vài giây.
17 Số lượng trứng tùy theo kích cỡ của tôm mẹ. Nếu tôm có khối lượng 30 - 35g , lượng trứng 100.000 hạt , trứng có đường kính khoảng 0,22mm. Sự phát triển của trứng từ sau khi đẻ đến giai đoạn đầu tiên của Nauplius diễn ra trong khoảng 14 giờ. Sau khi đẻ xong trứng trải qua các giai đoạn tới Postlarvae bơi vào gần bờ sông , vùng cửa sông (thức ăn nhiều , độ mặn thấp , nhiệt độ cao hơn) sau vài tháng tôm con trưởng thành bơi ra biển rồi giao hợp sinh sản tiếp.
Khi nuôi tôm bố mẹ cho đẻ cần tạo điều kiện ít thay nước (nước cần lọc sạch bằng than) chọn tôm cái nặng trên 40g , tránh chọn tôm đực bộ phận mang tinh trùng có màu xám đen. Nuôi trong ao tôm cái rất khó thành thục , nhưng ở trong khu vực biển tự nhiên thấy có một số cá thể loài có kích thước đầu ngực dài 40mm đã ôm trứng. Thông thường phải từ 12 tháng tuổi trở lên tôm cái mới thành thục (Thái Bá Hồ, Ngô Trọng Lư, 2003).3 ĐẶC ĐIỂM MIỄN DỊCH Ở TÔM Hệ thống miễn dịch của tôm là một hệ thống tự nhiên, không có đặc hiệu, tức là bất kỳ tác nhân lạ nào cũng được phản ứng lại y như nhau và không có khả năng ghi nhớ. Bao gồm miễn dịch tế bào và miễn dịch thể dịch, cả hai cơ chế cùng giúp đỡ nhau trong việc đào thải và loại bỏ sinh vật lạ gây hại cho tôm.
Đầu tiên, khi mầm bệnh xâm nhập thì sẽ gặp phải hàng rào vật lý, chính là lớp vỏ chitin của tôm. Nó bao gồm 1 lớp chất nhầy với tác dụng kháng khuẩn bề mặt hiệu quả. Sau khi chiến thắng hàng rào vật lý, mầm bệnh sẽ chịu tác động của các tế bào máu có khả năng miễn dịch. Cơ thể tôm có 5 loại tế bào máu nhưng chỉ biết chức năng của 3 tế bào chính bao gồm tế bào hạt, tế bào bán hạt và tế bào hyalin (tế bào sợi).
Các tế bào này thực hiện chức năng thực bào, đóng gói (khu trú mầm bệnh) và hình thành melanin tiêu diệt vật thể lạ.