CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Lý d c ọn đề i Vai trò của nhân viên kinh doanh trong các doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng (Herjanto & Franklin, 2019). Nhân viên kinh doanh hay còn gọi là salesperson là lực lượng nhân viên nòng cốt của mỗi công ty, là người đem sản phẩm đến với khách hàng, giúp khách hàng hiểu và sử dụng sản phẩm, là những người trực tiếp mang về doanh thu cho doanh nghiệp. Trong thời đại toàn cầu hoá như ngày nay, hoạt động xuất nhập khẩu đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia.
Theo Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), tốc độ phát triển của ngành logistics tại Việt Nam những năm gần đây đạt khoảng 14%-16%, với quy mô khoảng 40-42 tỷ USD/năm. Tham gia thị trường logistics gồm khoảng 4.000 doanh nghiệp trong nước và khoảng 25 tập đoàn giao nhận hàng đầu thế giới kinh doanh dưới nhiều hình thức và 70% tập trung ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận. Trên 70% doanh nghiệp logistics đang hoạt động hiện nay có quy mô vốn vừa và nhỏ, 7% có vốn trên 1.000 tỷ đồng, trong đó chủ yếu nhóm vốn lớn là các doanh nghiệp đa quốc gia. Các doanh nghiệp logistics hàng đầu hiện nay là SNP, Gemadept, Transimex, IndoTrans, TBS Logistics, Tân Cảng Sài Gòn, Delta, U&I Logistics, Sotrans, Vinatrans đều là hội viên của VLA, cung cấp dịch vụ tới tất cả các thị trường chiến lược của Việt Nam (Theo báo doanhnhancafe.
Hiện nay TPHCM là trung tâm phân phối, cung ứng hàng hóa lớn nhất phía Nam, theo đề án phát triển ngành logistics tại TPHCM đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, logistics được hoạch định phát triển thành ngành dịch vụ mũi nhọn của thành phố và cả khu vực. Theo BCKQHDKD năm 2019 của công ty Cổ Phần Kho Vận Miền Nam – SOTRANS, doanh thu về bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2019 chỉ đạt gần 320 2 nghìn tỷ đồng, giảm 70% so với năm 2018. Doanh thu của công ty cổ phần giao nhận Kho vận ngoại thương Việt Nam – VINATRANS năm 2019 đạt khoảng 142 nghìn tỷ đồng, giảm 14% so với năm 2018 (BCKQHDKD của Vinatrans, 2019). Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty cổ phần Logistics Vinalink cũng giảm 4,6% so với năm 2018, đạt 884 nghìn tỷ đồng (BCKQHDKD của Vinalink, 2019).
Với sự cạnh tranh gay gắt trong ngành logistics, để các công ty có quy mô vừa và nhỏ có thể tồn tại được thì nguồn nhân lực đóng vai trò rất quan trọng, trong đó kết quả làm việc của nhân viên kinh doanh đóng vai trò then chốt. Bản thân tác giả là người đang công tác trong ngành logistics, thông qua sự quan sát, trao đổi với các đồng nghiệp và các quản lý, tác giả nhận thấy sự sáng tạo và sự tự tin tác động mạnh mẽ đến kết quả làm việc của nhân viên kinh doanh trong ngành này. Theo một số chia sẻ của các đồng nghiệp, những nhà lãnh đạo có sự quan tâm đến nhân viên, tạo điều kiện để nhân viên phát triển được khả năng sáng tạo thì nhân viên sẽ cảm thấy tự tin hơn trong công việc và đạt được kết quả làm việc tốt. Ngược lại những nhà lãnh đạo ít có sự quan tâm đến nhân viên, không tạo được động lực cho nhân viên thì họ sẽ không phát huy được sự tự tin và sự sáng tạo của bản thân, từ đó đạt kết quả làm việc không cao.
Theo Herjanto và Franklin (2019), yếu tố cá nhân (personal factor) là một trong năm nhân tố tác động đến kết quả làm việc của nhân viên kinh doanh. Những cá nhân có sự tự tin về bản thân thì họ luôn nỗ lực để đạt được được hiệu quả cao. Ngược lại những cá nhân không có sự tự tin vào bản thân thì dường như họ ít nỗ lực hơn và đạt kết quả chưa tốt (Bandura, 1986). Bandura (1997) cho rằng một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến sự thành công hay thất bại của một người là sự tự tin vào năng lực bản thân.
Một số nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra mối quan hệ giữa sự tự tin vào năng lực bản thân và kết quả làm việc của nhân viên. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh 3 được tầm quan trọng của sự tự tin vào năng lực bản thân đối với sự cải thiện kết quả làm việc (Gist and Mitchell, 1992). Ngoài sự tự tin thì sự sáng tạo cũng đóng vai trò quan trọng trong thời đại ngày nay. Theo ông Trần Văn Đoàn chia sẻ trên báo vietnambiz.vn, ông luôn khuyến khích nhân viên dám thất bại để duy trì tinh thần sáng tạo của nhân viên.
Sự sáng tạo của nhân viên đã được coi là chìa khóa cho sự sống còn và thành công của tổ chức (Amabile, 1996, được trích dẫn bởi Gong et al. Lý thuyết lợi thế cạnh tranh cho thấy rằng nguồn lợi thế cạnh tranh cuối cùng là nguồn nhân lực, vì tính sáng tạo của tổ chức chủ yếu nằm ở nhân viên, để phát triển lợi thế cạnh tranh bền vững, các công ty phải khuyến khích nhân viên thử những ý tưởng mới (Scott và Bruce, 1994). Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng sự sáng tạo của nhân viên có liên quan tích cực đến kết quả công việc, hiệu quả tổ chức và khả năng cạnh tranh (Amabile, 1996). Với sự cạnh tranh gay gắt như ngày nay, đặc biệt là đối với nghề bán hàng, để có thể tìm kiếm được những khách hàng mới thì đòi hỏi mỗi nhân viên kinh doanh phải luôn sáng tạo và có khả năng giải quyết vấn đề một cách linh động, nhạy bén.
Hiện nay với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của ngành logistics, để đạt được kết quả làm việc tốt, nhân viên kinh doanh cần phải hội tụ nhiều yếu tố. Ngoài những kiến thức về chuyên môn, nhân viên kinh doanh phải có sự tự tin vào bản thân để giải quyết mọi tình huống của khách hàng, bên cạnh đó nhân viên kinh doanh ngành logistics phải luôn tìm ra những cách thức bán hàng, những ý tưởng mới mới có thể thuyết phục được khách hàng, tức là đòi hỏi nhân viên kinh doanh phải có sự sáng tạo thì mới có thể đạt được kết quả làm việc tốt. Trong bất kì một tổ chức hay doanh nghiệp nào, phong cách lãnh đạo là một khía cạnh quan trọng của môi trường làm việc, luôn có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhân viên (Oldham & Cummings, 1996, được trích bởi Gong et al. Phong cách lãnh đạo có thể khiến nhân viên nỗ lực để đạt được mục tiêu đặt ra thậm chí 4 vượt qua những giới hạn bản thân để đạt được những kết quả cao hơn cho tổ chức.
Gần đây, phong cách lãnh đạo chuyển đổi được cho rằng là phong cách lãnh đạo hiệu quả đã làm thay đổi phương thức quản lý truyền thống (Avolio et al. Gần đây phong cách lãnh đạo nổi bật hơn hết vì bản chất của phong cách này là tạo động lực, truyền cảm hứng, quan tâm cá nhân từ đó giúp nhân viên nâng cao được sự tự tin vào năng lực bản thân và sự sáng tạo, từ đó nâng cao kết quả làm việc của nhân viên kinh doanh. House và Shamir (1993) cho rằng cơ chế mà nhà lãnh đạo chuyển đổi tác động đến kết quả làm việc của nhân viên là giúp nhân viên nâng cao sự tự tin vào năng lực bản thân (Được trích bởi Pillai và Williams, 2004). Trên thế giới cũng đã có nhiều bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo chuyển đổi, sự tự tin, sự sáng tạo và kết quả làm việc của nhân viên.
Tuy nhiên theo tìm hiểu của tác giả thì ở Việt Nam, đặc biệt trong ngành logistics thì chưa có bài nghiên cứu nào nghiên cứu về sự tác động của phong cách lãnh đạo chuyển đổi đến kết quả làm việc của nhân viên kinh doanh thông qua sự tự tin và sự sáng tạo. Chính vì vậy tác giả lựa chọn đề tài: “Tác động của phong cách lãnh đạo chuyển đổi đến kết quả làm việc thông qua sự tự tin và sự sáng tạo của nhân viên kinh doanh: trường hợp ngành logistics tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”. Nghiên cứu này góp phần kiểm định lại mối quan hệ giữa các yếu tố phong cách lãnh đạo chuyển đổi, sự tự tin, sự sáng tạo và kết quả làm việc của nhân viên kinh doanh tại các doanh nghiệp logistics ở TPHCM. Tác giả cũng hy vọng rằng kết quả của bài nghiên cứu này có thể có ý nghĩa nào đó cho thực tiễn quản lý doanh nghiệp trong ngành logistics tại Việt Nam.
Mục iêu ng iên cứu - Xác định mức độ tác động của phong cách lãnh đạo chuyển đổi đến sự tự tin của nhân viên kinh doanh ngành logistics tại Việt Nam. 5 - Xác định mức độ tác động của sự tự tin đến kết quả làm việc của nhân viên kinh doanh ngành logistics tại Việt Nam. - Xác định mức độ tác động của phong cách lãnh đạo chuyển đổi đến sự sáng tạo của nhân viên kinh doanh ngành logistics tại Việt Nam. - Xác định mức độ tác động của sự sáng tạo đến kết quả làm việc của nhân viên kinh doanh ngành logistics tại Việt Nam.
- Rút ra một số hàm ý quản trị liên quan đến đề tài. C u ỏi ng iên cứu - Phong cách lãnh đạo chuyển đổi tác động như thế nào đến sự tự tin của nhân viên kinh doanh ngành logistics tại Việt Nam? - Sự tự tin tác động như thế nào đến kết quả làm việc của nhân viên kinh doanh ngành logistics tại Việt Nam? - Phong cách lãnh đạo chuyển đổi tác động như thế nào đến sự sáng tạo của nhân viên kinh doanh ngành logistics tại Việt Nam? - Sự sáng tạo tác động như thế nào đến kết quả làm việc của nhân viên kinh doanh ngành logistics tại Việt Nam? - Có thể rút ra những hàm ý quản trị nào từ kết quả nghiên cứu? 1. Đối ượng p m i ng iên cứu Đối tượng nghiên cứu: Tác động của phong cách lãnh đạo chuyển đổi đến kết quả làm việc thông qua sự tự tin và sự sáng tạo của nhân viên kinh doanh ngành logistics trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng khảo sát: Các nhân viên kinh doanh đang làm việc tại các doanh nghiệp logistics trên địa bàn TPHCM.
Phạm vi thời gian nghiên cứu: dự kiến từ tháng 2/2020 đến tháng 8/2020.