Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nguồn gốc Bap ngọt (Zea mays var. saccharata) là cây hàng năm, thuộc họ hòa thảo, bộ nhiễm sắc thể 2n = 20. Trong những năm 1770 bắp ngọt lần đầu tiên được phát hiện và sau đó được thu thập bởi người Châu Âu (Schultheis, 1998).1 Phân nhóm bắp theo gen quy định tính ngọt Tên loại bắp Hàm lượng đường Cặp gen Trên NST Đập ngợi Thưởng faonnal 6- 11% gen lặn susu NST số 4 sugary) Bap ngot dam (enhanced sugary) 12 - 20% gen lan sese NST số 4 Bap sweet) RIẦU ingot (nipetenins 21 - 30% gen lặn sh2sh2 NST số 3 (Schultheis, 1998) Dé đảm bảo độ ngọt của giống, khi canh tác cây bap ngọt nên chú ý phải trồng cách ly (không gian hoặc thời gian) với các loại bắp khác vì tính ngọt của bắp là do gen lặn quy định. Riêng giống bắp có gen sh2 tuyệt đối phải trồng cách ly với bất cứ loại bắp nào khác mới duy trì được tính ngọt (Schultheis, 1998).1 nhận thấy dựa trên hàm lượng đường và một số đặc điểm khác Vince và cộng sự (2002) chia bắp ngọt thành 3 nhóm: - Bắp ngọt thường - normal sugary (su), có độ brix dao động từ 6 - 11%, đây là bắp tiêu chuẩn cho tiêu dùng ăn tươi.
- Bắp ngọt đậm - sugary enhanced (se) độ đường cao hơn (độ brix dao động từ 12 - 20%) và thời gian chuyền đường thành tinh bột chậm hơn sau thu hoạch, nội nhũ rât mêm. - Bap siêu ngọt - supersweet or shrunken-2 (sh2) bắp có hàm lượng đường cao gấp 2 - 3 lan Bap đường ngọt thường (độ brix dao động từ 21 - 30%). Hạt của loại Bắp đường này trường nhăn nheo, nhỏ và nhẹ hơn hai loại trên. Giống bắp ngọt Nữ Hoàng đỏ thuộc nhóm bắp ngọt đậm, có độ Brix dao động từ 12 - 18%.
Bắp ngọt không chỉ có giá trị kinh tế mà còn có giá trị dinh dưỡng cao vì thành phần dinh dưỡng phong phú và đầy đủ, bắp ngọt đã được dùng rất nhiều trong thành phần thức ăn b6 sung. Bap ngọt vừa là món ăn bổ dưỡng, vừa giúp tái tạo và tăng cường năng lượng, mặc khác trong bắp ngọt có chứa rất nhiều vitamin E và tốt cho tiêu hóa (Schultheis, 1998).2 Vai trò của phân bón đối với cây bắp Dé cây sinh trưởng phát triển tốt, đạt được năng suất cao và 6n định, cây bắp ngọt ngoai được đáp ứng đủ các yếu tố như nhiệt độ, nước, ánh sáng, đất đai, cần phải có chế độ bón phân hợp lý. Trong đó, chú ý cung cấp đủ và cân đối các yếu tố dinh dưỡng, đặc biệt là các yếu tố đa lượng N, P, K. Phân bón có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây bắp ngọt, từ giai đoạn cây con cho đến lúc thu hoạch.
Đối với cây bắp, trong các biện pháp canh tác nhằm tăng năng suất, phân bón giữ vai trò quan trọng nhất; phân bón ảnh hưởng tới 30,7% năng suất bắp nếp còn các yếu tố khác như mật độ cây, cỏ dai, đất canh tác có ảnh hưởng ít hơn (Berzenyi, 1996). Bap ngọt là loại cây trồng có khả năng tạo ra một khối lượng lớn chất khô trong một vụ trồng do đó cần một lượng chất dinh dưỡng, trong đó đạm là yếu tố được cây bắp sử dụng nhiều nhất. Các giống bắp ngọt khác nhau có nhu cầu sử dụng phân đạm ở mức độ khác nhau (Debreczeni, 2000).1 Vai trò phân bón hữu cơ vi sinh đối với cây bắp Bón phân hữu cơ làm tăng năng suất cây trồng, cho hiệu quả kinh tế cao và ồn định. Ngoài ra phân hữu cơ còn làm giảm bớt lượng phân khoáng cần bón, nếu bón 10 tấn phân chuồng/ha có thé giảm bớt được 40 - 50% lượng phan kali cần bón.
Hiệu quả sử dụng phân hữu cơ (phan chuồng) làm tăng đáng kể hiệu suất sử dung phân đạm của cây bắp, nếu chỉ bón phân chuồng, hiệu qua đạt 30 kg bắp hạt/tấn phân chuồng, nếu kết hợp với phân đạm khoáng, hiệu suất tăng lên 126 kg bắp hạt/tấn phân chuồng. Bon phân hữu cơ còn làm giảm hiệu lực của phân kali khoáng, nhất là với loại phân có khả năng giải phóng kali dé dàng như phân chuồng. Điều này có nghĩa nêu bón phân chuồng có thể giảm liều lượng phân kali khoáng (Bùi Huy Hiền, 2002). Phân hữu cơ vi sinh là loại phân bón được hình thành bằng cách pha trộn sau đó được xử lý các nguyên liệu hữu cơ cho lên men với các chủng vi sinh vật vẫn còn song va sẽ hoạt động khi được bón vào đất.
Phân hữu cơ vi sinh có tác động rất tốt đến môi trường sống của hệ sinh vật. Việc sử dụng phân hữu cơ vi sinh có ý nghĩa lớn đến việc giảm sử dụng các loại phân hoá học, thuốc trừ sâu từ đó tăng chất lượng nông sản, bảo vệ môi trường hướng tới một nền sản xuất nông nghiệp hữu cơ phát triển bền vững. Thành phan của phân hữu cơ vi sinh bao gồm: chất hữu cơ trên 15%, các nguyên tố đa lượng, trung vi lượng và có chứa vi sinh vật hữu ích như: vi sinh vat phân giải lân, vi sinh vật cô định đạm, phân giải xenlulo với mật độ từ > 1x10 CFU/mg mỗi loại (tùy vào loại phân hữu cơ vi sinh). Theo Palanivell và cs (2013), khi sử dung phân hữu co dé bón cho cây bap các chỉ tiêu như chiều cao thân chính, đường kính cây, vật chất khô tích lũy tăng lên đáng kê.
Đồng thời làm tăng tỷ lệ hap thu N và P. Vì vậy phân bón hữu co làm giảm lượng phân bón hóa học lên đến 90%. Do đó hỗn hợp phân hữu cơ, hữu cơ vi sinh được tăng cường sử dụng nhằm hạn chế bón các loại phân bón hóa học trong canh tác cây bắp.2 Vai trò phân đạm đối với cây bắp Đạm đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành protein và là thành phần cau tạo của diép lục, là tác nhân chính hap thu năng lượng ánh sáng cần thiết cho quang hợp. Vì vậy nếu đạm được cung cấp đầy đủ, hoạt động quang hợp sẽ tăng, cây sinh trưởng mạnh và lá có màu xanh đậm.
Tuy nhiên khi thừa N, trong mối quan hệ với các chất dinh dưỡng khác như P, K và S có thể làm chậm sự chín của cây trồng. Thiếu N lá biến vàng do mat protein trong luc lap, thé hiện đầu tiên ở lá già. Các vết ta vàng này bắt đầu ở chop lá và tiễn triển dài theo phan thịt lá cho đến khi toàn bộ lá bị chết (Đường Hồng Dật, 2003).3 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón và mật độ trồng bắp ngọt trên thế giới và Việt Nam 1.1 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón hữu cơ, hữu cơ vi sinh đối với bắp ngọt trên thế giới Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng và quản lý tổng hợp dinh đưỡng đến năng suất và chất lượng bắp ngọt (Zea mays var. saccharata) được thực hiện năm 2006 và 2007 trên đất cát pha mùn.
Thí nghiệm bao gồm hai mật độ trồng (45 x 20 cm và 60 x 20 cm); Hai mức phân chuồng (0 tan/ha va 10 tắn/ha): Năm công thức phân bón (100% phân vô cơ (theo khuyến cáo); 75% phân vô cơ + Azotobacter; 75% phân vô cơ + Azotobacter + Phosphobacteria; 50% phân vô cơ + Azotobacter và 50% phân vô cơ + Azotobacter + Phosphobacteria). Kết qua cho thấy việc trồng bắp ngọt với mật độ trồng 45 x 20 cm và áp dụng 10 tan/ha phân chuồng kết hợp với 100% phân vô cơ có ảnh hưởng đáng kể đến năng suất bắp ngọt, năng suất thức ăn thô xanh và thu được lợi nhuận tối đa (Patel và cs, 2015). Theo Wagh (2002), khi sử dụng phân chuồng (5 tắn/ha) + 220 kg N + 50 kg PzOs + 50 kg K2O (kg/ha) + Azotobacter trên giống bắp ngọt cho thấy chỉ số diện tích lá và tốc độ tăng trưởng cây trồng (chiều cao cây, số lá, khối lượng chất khô, năng suất) tăng đáng kẻ. Nghiên cứu ảnh hưởng của phân đạm, lân và phân hữu cơ sinh học đến năng suất và các yêu tô cau thành năng suất của bắp ngọt (Zea mays var.
saccharata) đã được thực hiện vào năm 2010 - 2011 trên giống bắp ngọt Pashen. Kết quả cho thấy ở nghiệm thức bón 150 kg N + 75 kg P2Os (kg/ha) + phân bón Barvar 2 (chứa 2 chủng vi khuân Bacteria 5p và 13p) + phân bón hữu co sinh học Nitroxin (có chứa Azospirillum sp.) đã làm tăng năng suất và các yếu tô cấu thành năng suất (Maleki Narg Mousa và cs, 2012). Tại Brazil, sử dụng vi sinh vật Azospirillum brasilense kết hợp với phân đạm nhằm tăng năng suất giống bắp ngọt RB 6324 đã được đánh giá vào mùa hè các năm 2012/2013, 2013/2014 và 2014/2015. Kết quả cho thấy chiều cao cây (dao động từ 2,11 - 2,26 m), chỉ số diện tích lá (3,33 - 4,32 m? la/m? đất), năng suất (7,21 - 10,43 tan/ha ) ở nghiệm thức sử dụng liều lượng chế phẩm 100 mL/ha kết hợp với việc bón N khi gieo hạt hoặc bón thúc (Alberto Yuji Numoto và cs, 2019).
Năm 2016 tại huyện Tapin, tinh Nam Kalimantan, thí nghiệm xác định ảnh hưởng của phân bón sinh học đến sinh trưởng và năng suất bắp ngọt đã được thực hiện. Thành phần phân bón sinh học có chứa một số vi sinh vật như: Azotobacter sp. va Trichoderma sp. trong äó Azotobacter sp.
và Azospirillium sp. có chức năng cố định đạm. Kết quả cho thấy việc bón phân sinh học có ảnh hưởng đáng kể đến khối lượng của bắp, chiều dài bắp và đường kính bắp nhưng không ảnh hưởng đến chiều cao cây (172,0 — 174,0 em) khi thu hoạch, khối lượng bắp dao động từ 320,75 - 348,25 g/bap và năng suất 9,43 - 10,00 tan/ha so với nghiệm thức không sử dụng phân sinh học 290,0 g/bap va năng suất 8,08 tan/ha. Việc sử dụng liên tục phân bón vô cơ có thé làm giảm độ phì nhiêu của đất.
Phân bón sinh học là một giải pháp thay thé dé cải thiện độ phi của dat và nâng cao năng suất, chất lượng của cây trồng (A Sabur và cs, 2019). Việc sử dụng liên tục phân bón vô co làm tăng chi phi sản xuất, làm suy giảm độ phì của đất và gây ô nhiễm môi trường. Cần tăng cường sử dụng phân bón hữu cơ như: phân chuồng, phân trùn quế và phân bón sinh học nhằm cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng và cải thiện các đặc tính vật lý, hóa học và sinh học của đất và hướng đến nền nông nghiệp bền vững. Từ thảo luận trên, có thể kết luận rằng cân bằng bón phân cho bắp ngọt từ cả hữu cơ và vô cơ là cần thiết để có năng suất tốt hơn.