Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Đưa ra lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu và kết cấu luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu 7 Trình bày các khái niệm và cơ sở lý thuyết của các biến trong mô hình nghiên cứu. Tiếp đến tác giả trình bày các công trình nghiên cứu trước đó, từ đó biện luận đưa ra các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu mới. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu trong bài nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Thu thập và xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS và AMOS, trình bày kết quả phân tích và giải thích kết quả, thảo luận kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Tác giả đưa ra kết luận và hàm ý quản trị dựa trên kết quả nghiên cứu nhằm giải quyết mục tiêu nghiên cứu đã đề ra. 8 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết trao đổi xã hội (Social Exchange Theory) và Niềm tin Năm 1961, George Casper Homans, người sáng lập xã hội học hành vi đã cho ra mắt cuốn sách “Hành vi xã hội: Các hình thức cơ bản của nó” trong đó ông đã phát triển lý thuyết trao đổi xã hội. Lý thuyết này sau đó được Peter Blau nghiên cứu và phát triển thêm nội dung năm 1964.
Lý thuyết này dựa trên tiền đề trung tâm rằng trao đổi các nguồn lực xã hội và vật chất là một hình thức tương tác cơ bản của con người. Nội dung của lý thuyết tập trung vào mô tả và giải thích động cơ và mục đích của hành vi cá nhân. Homans cho rằng mọi hành vi của con người về cơ bản đều có lý do của nó, các hành vi cá nhân xảy ra được thúc đẩy bởi một phần thưởng hoặc lợi ích nào đó được kỳ vọng từ cá nhân khác đem lại lớn hơn chi phí phải bỏ ra. Sự trao đổi diễn ra lặp đi lặp lại dẫn đến sự tin cậy lẫn nhau.
Mối quan hệ hay tương tác giữa các cá nhân sẽ chấm dứt hoặc tiếp tục dựa trên lịch sử tương tác trước đó. Sự tin tưởng được phát triển thông qua các tương tác lăp đi lặp lại cho phép một các nhân thu thập thông tin từ đối phương và tiến tới một kỳ vọng rằng hành vi của đối phương là dự đoán được và đem lại lợi ích nào đó. Điều này là tiền đề cho việc hình thành niềm tin giữa con người với con người. Như vậy theo lý thuyết này, việc trao đổi giữa các cá nhân trong xã hội dựa trên nguyên tắc có qua có lại giữa hai phía, đồng thời sự trao đổi diễn ra nhiều lần sẽ tạo dựng niềm tin cho cả hai phía.
Trong nghiên cứu này, khái niệm niềm tin được tác giả sử dụng dựa trên lý thuyết trao đổi xã hội. Rousseau và cộng sự (1998) định nghĩa về niềm tin như là một trạng thái tâm lý bao gồm ý định chấp nhận tính dễ bị tổn thương dựa trên những kỳ vọng tích cực về ý định hoặc hành vi của người khác. Mayer et al. (1995) xác định niềm tin như là sự sẵn sàng của một bên trong việc dễ bị tổn thương trước các hành động của một bên 9 khác dựa trên kỳ vọng cho rằng người kia sẽ thực hiện một hành động cụ thể quan trọng đối với người tin cậy, bất kể khả năng để giám sát hoặc kiểm soát bên kia.
Sabel (1993) đã định nghĩa niềm tin là sự tin tưởng giữa hai bên với sự hiểu biết rằng không bên nào sẽ khai thác lỗ hổng của bên kia. Trong bối cảnh quản lý, Paliszkiewicz (2013) khẳng định rằng niềm tin là viễn cảnh mà một người hành động có lợi cho bên tin cậy, hành xử hoặc phản hồi theo cách có thể dự đoán được và phù hợp với nhau. Laequeddin và cộng sự (2010) cho rằng mức độ nhân viên tin cậy lãnh đạo phụ thuộc vào mức độ lãnh đạo ảnh hưởng đến nhân viên thông qua năng lực lãnh đạo, đạo đức lãnh đạo, hành vi lãnh đạo. Khi nhân viên tin rằng người lãnh đạo của họ là người đáng tin cậy, có năng lực và quan tâm đến công việc của nhóm, họ sẽ sẵn sàng tiết lộ quan điểm và ý kiến của mình hơn và chia sẻ thông tin nhạy cảm liên quan đến công việc với lãnh đạo.
Niềm tin vào đồng nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng đối với công việc bởi vì các thành viên trong nhóm thường dựa vào đồng nghiệp hơn người lãnh đạo. Davenport và cộng sự (1998) đã chỉ ra rằng không có việc chia sẻ tri thức nào có thể thực hiện được mà không có niềm tin, sự tin tưởng giữa các thành viên trong nhóm là quan trọng vì nhiều lý do bởi vì điều đó giúp các thành viên kết nối và hợp tác với nhau cùng đổi mới. Trong bài nghiên cứu này tác giả kế thừa khái niệm niềm tin của Rousseau và cộng sự (1998), tác giả sử dụng thang đo của Wei-Li Wu và cộng sự (2010) để đo lường niềm tin của nhân viên ngành xi măng.2 Lý thuyết lãnh đạo chuyển đổi (Transformational Leadership Theory) Lý thuyết lãnh đạo chuyển đổi đã chiếm được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực lãnh đạo tổ chức trong nhiều thập kỷ qua. Lý thuyết này được phát triển bởi Burns (1978) và sau đó được tăng cường bởi Bass (1985) và nhiều nhà nghiên cứu khác.
Tiền đề chính của lý thuyết lãnh đạo chuyển đổi là khả năng của người lãnh đạo để thúc đẩy nhân viên hoàn thành công việc nhiều hơn những gì mà nhân viên dự định đạt được. 10 Lý thuyết lãnh đạo chuyển đổi có bốn thành phần: ảnh hưởng lý tưởng hoá, động lực truyền cảm hứng, kích thích trí tuệ và quan tâm cá nhân (Bass, 1985). Burns và Bass đều công nhận rằng các nhà lãnh đạo chuyển đổi truyền cảm hứng cho nhân viên để hoàn thành nhiệm vụ nhiều hơn bằng cách quan tâm và giúp đỡ nhân viên hướng tới các giá trị của tổ chức. Hơn nữa, cả hai cũng xác định lãnh đạo chuyển đổi tạo ra một mối quan hệ trong đó nhà lãnh đạo và nhân viên cùng nhau thúc đẩy nó lên cao hơn, dẫn đến một hệ thống giá trị qua lại giữa người lãnh đạo và nhân viên.
Bass và Avolio (2000) tiếp tục nghiên cứu các thành phần của lãnh đạo chuyển đổi thông qua đo lường bằng bảng câu hỏi về lãnh đạo đa yếu tố, kết quả của các nghiên cứu giúp cho ông và các cộng sự phát triển thêm về khái niệm của các thành phần của lãnh đạo chuyển đổi. Sau đó, Bass và Avolio (2004) tiếp tục phát triển và hoàn thiện lý thuyết phong cách lãnh đạo chuyển đổi bao gồm 5 thành phần: Ảnh hưởng bằng phẩm chất, ảnh hưởng bằng hành vi, truyền cảm hứng, kích thích trí tuệ và quan tâm cá nhân. - Ảnh hưởng bằng phẩm chất: là hình mẫu cho nhân viên noi theo, khiến nhân viên cảm thấy tự hào và được tôn trọng khi làm việc với người lãnh đạo; người lãnh đạo luôn thể hiện được quyền lực và sự tự tin. Họ luôn đặt lợi ích chung của tập thể lên trên hết.
- Ảnh hưởng bằng hành vi: lãnh đạo không chứng tỏ quyền lực bằng việc ra lệnh mà thông qua hành động của mình để truyền đạt cho nhân viên những giá trị quan trọng, nhấn mạnh tầm quan trọng của mục tiêu và sứ mệnh của công ty. Người lãnh đạo luôn chú trọng vấn đề đạo đức khi hành động và khi ra quyết định. - Kích thích trí tuệ: khuyến khích nhân viên đưa ra ý kiến, đánh giá lại những yếu tố then chốt hình thành nên tầm nhìn và sứ mệnh của tổ chức, từ đó đưa ra những ý kiến đề xuất mới. Khuyến khích nhân viên giải quyết vấn đề theo những cách tiếp cận mới.
Gợi ý cho nhân viên nhìn nhận vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau để đưa 11 ra giải pháp hợp lý, được sự hỗ trợ như vậy, nhân viên gắn kết cao hơn với công việc, với đồng nghiệp và tổ chức. - Truyền cảm hứng: tạo động lực và thúc đẩy nhân viên làm việc thông qua việc đưa ra tầm nhìn thu hút trong tương lai, trao đổi và chỉ ra ý nghĩa công việc, động viên nhân viên nỗ lực để chinh phục thử thách trong công việc, khiến cho nhân viên thấy tự tin và gia tăng niềm tin đối với lãnh đạo. Lãnh đạo đưa ra ví dụ về những nhiệm vụ khó khăn nhưng vẫn duy trì sự lạc quan trong khủng hoảng và tìm cách giảm tải công việc bằng cách áp dụng phương pháp làm việc sáng tạo. Từ đó kích thích nhân viên hành động bằng một niềm tin mãnh liệt vượt qua mọi trở ngại và giúp cả tập thể nắm bắt cơ hội và chinh phục thử thách mới.
- Quan tâm cá nhân: thảo luận cá nhân với nhân viên để đánh giá mục tiêu và phát triển kỹ năng, chú tâm đến nhu cầu, khả năng của nhân viên và các mối quan tâm của nhân viên. Lãnh đạo lắng nghe và chia sẻ những mối quan tâm của nhân viên đồng thời giúp nhân viên xây dựng sự tự tin, xem xét nhu cầu, nguyện vọng của nhân viên và giúp nhân viên phát huy hết điểm mạnh của bản. Trong bài nghiên cứu này, tác giả kế thừa khái niệm lãnh đạo chuyển đổi và thang đo của Bass và Avolio (2004) để đo lường phong cách lãnh đạo chuyển đổi của nhân viên ngành xi măng và được đo bằng bảng câu hỏi đa thành phần MLQ (Multifactor Leadership Questionare).3 Quản lý tri thức (Knowledge Management) và chia sẻ tri thức (Knowledge Sharing) Tri thức được định nghĩa là niềm tin được chứng minh là đúng (Nonaka và cộng sự, 1995). Tri thức là sự kết hợp linh hoạt giữa các kinh nghiệm, giá trị, thông tin theo ngữ cảnh và cái nhìn sâu sắc của chuyên gia, cung cấp một khuôn khổ để đánh giá và kết hợp các kinh nghiệm và thông tin mới (Davenport và Prusak 1998).
Có hai dạng tri thức, tri thức ẩn và tri thức hiện (Polanyi, 1996). 12 - Tri thức hiện: được xác định rõ ràng, dễ dàng được giao tiếp mà không có bất kỳ sự mơ hồ nào. - Tri thức ẩn: là tri thức không thành văn nằm trong đầu một người và thường khó giải thích hoặc chuyển tải. Tri thức được ghi nhớ và sử dụng thông qua sự hợp tác, tương tác và chia sẻ ý kiến giữa các cá nhân và các mối quan hệ lẫn nhau.