chương 1 tác giả đã trình bày được tính cấp thiết cũng như lý do thực hiện nghiên cứu này. Mục tiêu chính của nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng của Động lực làm việc lên Kết quả làm việc của các nghiên cứu viên đang công tác Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II. Từ đó tác giả hy vọng nghiên cứu này là cơ sở khoa học và khách quan giúp cho ban lãnh đạo của tổ chức có cái nhìn tổng quan cũng như phương án để cải thiện động lực cũng như kết quả làm việc của nhân viên. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các khái niệm nghiên cứu liên quan 2.1 Phong cách lãnh đạo Theo Katz & Kahn (1978), lãnh đạo là quá trình nhằm tác động đối với cấp dưới thông qua các chỉ đạo của tổ chức.
Theo Terry (1972), lãnh đạo là một hoạt động nhằm gây ảnh hưởng đến con người nhằm phấn đấu một cách tự nguyện theo mực tiêu chung của tổ chức. Yukl (2006) định nghĩa lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng đến những người khác để hiểu và thống nhất về những gì cần phải thực hiện và làm điều đó như thế nào, và tạo điều kiện cho cá nhân và tập thể nỗ lực thực hiện mục tiêu chung. Theo Newstrom và Davis (1993), Phong cách lãnh đạo là cách thức và phương pháp tiếp cận để chỉ đạo, triển khai kế hoạch thực hiện và thúc đẩy mọi người. Được thấy bới các nhân viên, phong cách lãnh đạo bao gồm các kiểu hành đọng ngầm và các hành động rõ ràng được thực hiện bởi nhà lãnh đạo của họ.
Phong cách lãnh đạo là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc làm tăng hoặc giảm sự gắn bó của nhân viên với tổ chức (Obiwuru và cộng sự, 2011). Lewin (1939) chỉ ra 3 kiểu phong cách lãnh đạo là phong cách lãnh đạo độc đoán, phong cách lãnh đạo dân chủ và phong cách lãnh đạo tự do. Nghiên cứu của Mosadeghard (2003) bổ sung thêm phong cách lãnh đạo chuyển đổi và từ đó, đa số các nhà nghiên cứu đồng tình và thống nhất rằng có 4 loại phong cách lãnh đạo cơ bản. Phong cách lãnh đạo độc đoán: nhà lãnh đạo giao việc và chỉ đạo nhân viên thực hiện những công việc đó mà không cần lắng nghe ý kiến từ nhân viên (Lewin, 1939).
Phong cách lãnh đạo dân chủ: ban lãnh đạo cùng một hoặc nhiều nhân viên cùng thực hiện việc ra quyết định, nhưng thường nhà lãnh đạo sẽ là người ra quyết định cuối cùng (Lewin, 1939). Phong cách lãnh đạo tự do: nhà lãnh đạo cho phép nhân viên tự đưa ra quyết định, tuy nhiên họ vẫn là người chịu trách nhiệm cuối (Lewin, 1939). 9 Phong cách lãnh đạo chuyển đổi: là quá trình trong đó người lãnh đạo phát triển, kích thích và truyền cảm hứng đến cấp dưới đạt được những kết quả vượt trội so với mong đợi bằng cách khơi gợi những nhu cầu cao hơn của họ, xây dựng lòng tin cũng như đặt lợi ích tổ chức lên lợi ích cá nhân (Yammarino, 1991 & Bass, 1985). Ở nghiên cứu này, dựa vào thực trạng của Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản II, tác giả sử dụng khái niệm phong cách lãnh đạo của Lewin (1939).2 Môi trường làm việc Môi trường làm việc được hiểu đơn giản là các điều kiện xung quanh, bao gồm mọi hoạt động của một nhân viên.
Cụ thể hơn, môi trường bao gồm cả những điều kiện vật chất như: không gian làm việc, thiết kế văn phòng, các thiết bị bổ trợ cho công việc,… và các điều kiện tinh thần như: sự tương tác xã hội tại nơi làm việc (gồm tương tác với đồng nghiệp, các lãnh đạo cấp trên và nhân viên), văn hóa công ty, quy trình và thái độ - tinh thần làm việc trong tổ chức,. Các vấn đề liên quan đến môi trường làm việc được quan tâm là an toàn lao động, vệ sinh cũng như thời gian làm việc (Trịnh Thùy Anh, 2017) Theo Kovach (1987), môi trường làm việc an toàn, giờ giấc làm việc hợp lý, nơi làm việc thuận lợi và được tổ chức tốt sẽ giúp thúc đẩy động lực làm việc của nhân viên. Trong tổ chức, môi trường làm việc được quan tâm đầu tư về trang thiết bị, máy móc, dụng cụ bảo hộ thì nhân viên sẽ cảm thấy yên tâm và tập trung khi làm việc hơn (Herzberg, 2003). Ở nghiên cứu này, dựa vào thực trạng của Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản II, tác giả sử dụng khái niệm môi trường làm việc của Herzberg (2003).3 Sự công bằng Theo thuyết tiến trình về sự công bằng của Adams (1963) cho rằng động lực bị ảnh hưởng bởi cảm giác của người lao động về “sự công bằng” được sinh ra sau khi đánh giá 10 tỷ lệ giữa sự đóng góp vào công việc – “đầu vào” và kết quả nhận được – “đầu ra”.
Ngoài ra, sự công bằng còn có thể nảy sinh thông qua việc so sánh tỷ lệ này của bản thân với những người khác cùng nhóm làm việc, cùng chức vụ hoặc cùng hoàn cảnh. Mặt khác, lý thuyết về động lực của Adams (1963) cũng cho rằng động lực làm việc là hệ quả của cảm nhận về sự công bằng trong đầu vào và đầu ra của một nhân viên. Do đó nhận thức về sự công bằng được nâng cao đối với nhân viên cần được xem xét, bất kỳ sự mất cân bằng nào giữa hai nhân tố này có thể tạo ra sự không hài lòng trong nhân viên. Sự công bằng trong tổ chức là một trong những nhân tố hình thành nên hành động của nhân viên đối với tổ chức (Usmami và Jamal, 2013).
Cụ thể hơn, theo Greenberg (1987), sự công bằng trong tổ chức có liên quan đến cách mà nhân viên xác định xem liệu họ có đang được đối xử công bằng hay không và từ đó ảnh hưởng đến hành vi cũng như kết quả của hành vi đó trong tổ chức. Công bằng tổ chức tùy theo góc độ quan tâm mà các nghiên cứu trước đây phân loại thành công bằng phân phối (Adams, 1965), công bằng thủ tục (Walker, 1975), công bằng đối xử (Bies, 1986), công bằng thời gian (Goodin, 2010), công bằng không gian (Usmani và Jamal, 2013). Ở nghiên cứu này, dựa vào thực trạng của Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản II, tác giả sử dụng sự công bằng của Adams (1963).4 Chia sẻ kiến thức Kiến thức được xem là nguồn lực chiến lược và quan trọng giúp tạo ra giá trị cho doanh nghiệp (Teece và cộng sự, 2011). Các kiến thức có giá trị được chuyển giao giữa các cá nhân và tập thể hay giữa các thế hệ với nhau (Kumari và Takahashi, 2014).
Chia sẻ kiến thức được hiểu đơn giản là một hoạt động mà thông qua đó các kiến thức bao gồm thông tin, kỹ năng, chuyên môn,… được trao đổi giữa người với người 11 (Bukowitz, 1999; Serban, 2002). Hay theo Lee (2011), chia sẻ tri thức được định nghĩa là hành động tự nguyện cho đi, chuyển tải những thông tin, kỹ năng hoặc là chuyên môn nghề nghiệp của một cá nhân, một tổ chức tới những cá nhân khác. Các tổ chức từ lâu đã nhận ra rằng kiến thức là một loại tài sản vô hình và có giá trị, từ đó giúp tạo ra và duy trì các lợi thế cạnh tranh (Miller, 1996). Ngày nay việc chia sẻ kiến thức trở nên dễ dàng hơn nhờ công nghệ, tuy nhiên bên cạnh đó, chia sẻ kiến thức còn phụ thuộc vào các yếu tố như văn hóa tổ chức, niềm tin, cũng như sự khuyến khích của lãnh đạo (Cabrera, 2002).
Việc chia sẻ tri thức được cho là “sự cung cấp những tri thức và sự hiểu biết để làm cách nào giúp đỡ người khác và hợp tác với họ trong giải quyết các vấn đề, gia tăng những ý tưởng hoặc là thực hiện những chính sách và các thủ tục (Cummings, 2004; Wang và Noe, 2010). Ở nghiên cứu này, dựa vào thực trạng của Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản II, tác giả sử dụng khái niệm chia sẻ kiến thức của Lee (2011).5 Động lực làm việc Động lực được định nghĩa là sự sẵn sàng tạo ra nguồn cảm hứng cao độ để đạt được các mục tiêu của tổ chức, được điều kiện hoá bởi khả năng của nỗ lực để thoả mãn một số nhu cầu cá nhân. Động lực là một thủ tục tâm lý bắt đầu hành động trong một nhiệm vụ và thiết lập hình thức, thời lượng và cường độ tham gia vào nhiệm vụ đó (Acar, 2018). Cụ thể, động lực là những đặc điểm giữ cho các cá nhân gắn bó với công việc của họ và vì vậy lợi ích của họ dẫn họ đến sự độc nhất và đổi mới.
Các nhà lãnh đạo tổ chức ngày nay nhận ra rằng động lực cho phép nhân viên thực hiện các nhiệm vụ tốt hơn trong công việc về lâu dài (Wong & Ladkin, 2008). Theo Reeve (2014), động lực của nhân viên có hai loại, động lực bên trong và động lực bên ngoài. Động lực bên trong thực sự phát sinh từ bản chất công việc, nhiệm vụ 12 và sự phân công, mô tả công việc và môi trường làm việc. Động lực đến từ các gói lương, lợi ích tài chính và các tiện ích khác có được tại công việc được gọi là động lực bên ngoài.
Mặc dù tiền có thể là động lực lớn nhất cho tất cả nhân viên, nhưng không nhất thiết chỉ riêng tiền cũng ảnh hưởng đến động lực làm việc của tất cả nhân viên. Trong bối cảnh môi trường làm việc, động lực được định nghĩa là một quá trình tâm lý đem lại mục đích và định hướng hành vi (Kreitner, 1995), hoặc như một thúc đẩy bên trong dẫn đến việc thỏa mãn một nhu cầu chưa đạt được (Higgins, 1994), hoặc là “các quá trình bên trong và ngoại lực bên ngoài định hướng hành vi” (Naylor, 1999). Động lực và các nhân tố quyết định nó từ lâu đã trở thành một vấn đề được đề cập trong các nghiên cứu. Trong đó, các học thuyết về động lực chính là tiền đề chính để thực hiện các nghiên cứu liên quan đến chủ đề này.
Chúng được nhóm thành ba loại chính là học thuyết nội dung động lực (Maslow, 1943; Alderler, 1967 và Herzberg, 1959), học thuyết tiến trình động lực (Adams, 1963; Vroom, 1964; Hackman & Oldham, 1980 và Locke, 1984), học thuyết tăng cường động lực (Skinner, 1969). Một trong những học thuyết nội dung về động lực là của Maslow (1943) đã phát triển một mô hình tháp 5 bậc bao gồm những nhu cầu cá nhân tồn tại theo một hệ thống phân cấp từ thấp nhất (thể chất) đến cao nhất (hiện thực hóa bản thân), con người bắt buộc phải được thoả mãn các nhu cầu cơ bản trước khi tiếp cận các bậc cao hơn trong tháp nhu cầu.