phần mở đầu và kết luận, khóa luận bao gồm 3 chương chính : Chƣơng 1: Lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất. Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên xi măng Vicem Hải Phòng. Chƣơng 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên xi măng Vicem Hải Phòng. Sinh viên : Nguyễn Thị Thu Trang – QT1305K 3 Khóa luận tốt nghiệp CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.
Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất. Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình sản xuất. Nền sản xuất xã hội của bất kỳ phương thức sản xuất nào cũng gắn liền với sự vận động và tiêu hao của các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Vì thế sự hình thành nên các chi phí sản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm sản xuất là tất yếu khách quan không phụ thuộc chủ quan vào người sản xuất.
Trên góc độ kinh tế học, chi phí là khoản phí tổn phải bỏ ra khi sản xuất hàng hóa, dịch vụ trong kinh doanh. Trên góc độ kế toán quản trị, chi phí sản xuất là các khoản phí tổn phải bỏ ra để mua các yếu tố cần thiết cho việc tạo ra sản phẩm mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp. Trên góc độ kế toán tài chính, chi phí được nhìn nhận như những khoản phí tổn phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để tạo ra sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định. Chi phí được xem như lượng tiền phải trả cho những hao phí về lao động sống cần thiết, lao động vật hóa…trên cơ sở chứng từ, tài liệu, bằng chứng chắc chắn.
Như vậy các quan niệm trên thực chất chỉ là sự nhìn nhận bản chất chi phí từ các góc độ khác nhau. Từ đó ta có thể đi đến một biểu hiện chung nhất về chi phí sản xuất như sau: Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp thực tế chi ra để tiến hành hoạt động sản xuất trong một kỳ kinh doanh nhất định. Các chi phí này phát sinh có tính chất thường xuyên gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm của một doanh nghiệp. Bản chất và chức năng của giá thành sản phẩm.
Bản chất của giá thành sản phẩm. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, chi phí sản xuất mới chỉ là một mặt thể hiện sự hao phí. Để đánh giá chất lượng sản xuất kinh doanh, chi phí chỉ ra phải được xem xét trong mối quan hệ với mặt thứ hai, hiệu quả do nó mang lại, từ quan hệ đó hình thành lên chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Sinh viên : Nguyễn Thị Thu Trang – QT1305K 4 Khóa luận tốt nghiệp Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá để hoàn thành một khối lượng sản phẩm hoặc lao vụ, dịch vụ.
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản,vật tư, tiền vốn, các quyết định, giải pháp quản lý áp dụng trong doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nhằm mục đích tăng thu nhập đạt lợi nhuận tối đa. Giá thành còn là một căn cứ quan trọng để định giá bán và xác định hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất. Bản chất của giá thành là sự chuyển dịch các yếu tố chi phí vào những sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn thành. Chức năng của giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác quản lý của các doanh nghiệp và của nền kinh tế. Giá thành sản phẩm có hai chức năng chính: chức năng bù đắp chi phí và chức năng lập giá. - Chức năng bù đắp chi phí: Toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp chi ra để hoàn thành một khối lượng sản phẩm, công việc lao vụ nhất định phải bù đắp bằng chính số tiền thu được về tiêu thụ sản phẩm, bán sản phẩm và có lãi (vì việc bù đắp chi phí đầu vào mới chỉ đảm bảo cho quá trình tái sản xuất giản đơn. Mục đích sản xuất, đồng thời cũng là nguyên tắc kinh doanh là không những phải đảm bảo trang trải, bù đắp được mọi chi phí đầu vào của quá trình sản xuất mà còn phải có lãi ).
- Chức năng lập giá: Giá bán sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào quy luật cung cầu thị trường.Giá bán sản phẩm được xây dựng trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết, biểu hiện mặt giá trị sản phẩm. Khi xây dựng giá cả thì yêu cầu đầu tiên là giá cả phải có khả năng bù đắp hao phí vật chất để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm cho các doanh nghiệp trong điều kiện sản xuất bình thường có thể bù đắp được hao phí để thực hiện quá trình tái sản xuất và kinh doanh có lãi. Như vậy, giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất cũng như đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Giá thành sản phẩm cao hay thấp, tăng hay giảm đồng nghĩa với lãng phí hay tiết kiệm lao động xã hội trong quá trình sản xuất.
Nói cách khác, giá thành sản Sinh viên : Nguyễn Thị Thu Trang – QT1305K 5 Khóa luận tốt nghiệp phẩm phản ánh kết quả của việc quản lý sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn của doanh nghiệp. * Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định. Giá thành sản phẩm là biểu hiện của chi phí sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm( công việc, lao vụ ) nhất định đã hoàn thành.
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ với nhau vừa là tiền đề vừa là nguyên nhân kết quả của nhau. Khi giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ giống nhau hoặc các ngành sản xuất không có sản phẩm dở dang thì lúc đó tổng giá thành sản phẩm và tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ sẽ giống nhau. + Về bản chất: chi phí sản xuất kinh doanh là hao phí lao động ( lao động sống và lao động vật hoá) chi ra trong một thời kỳ nhất định được biểu hiện bằng tiền. Còn giá thành sản xuất sản xuất sản phẩm cũng là lượng hao phí lao động kết tinh trong một đơn vị sản phẩm( hay một khối lượng sản phẩm) được biểu hiện bằng tiền.
+ Về phạm vi: chi phí sản xuất kinh doanh bao gồm chi phí sản xuất và cả chi phí quản lí, chi phí tiêu thụ sản phẩm. Còn giá thành sản xuất sản phẩm chỉ bao gồm chi phí sản xuất sản phẩm( chi phí trực tiếp và chi phí chung) Mặt khác khi nói đến chi phí sản xuất kinh doanh là được giới hạn trong một thời kỳ nhất định không cần biết nó chi phí cho sản xuất sản phẩm gì, đã hoàn thành hay chưa. Còn khi nói đến giá thành sản xuất của sản phẩm lại được giới hạn là chi phí sản xuất của một khối lượng về một loại sản phẩm nhất định đã hoàn thành và tính cho một kỳ nhất định. + Về mặt lượng: Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm khác nhau khi có chi phí sản xuất dở dang.
Sự khác nhau về mặt lượng và mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thể hiện ở công thức tổng quát sau đây: Sinh viên : Nguyễn Thị Thu Trang – QT1305K 6 Khóa luận tốt nghiệp Tổng giá Trị giá sản Tổng chi phí Trị giá sản thành sản = phẩm dở + sản xuất phát - phẩm dở dang phẩm dang đầu kỳ sinh trong kỳ cuối kỳ Trong trường hợp đặc biệt khi chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ bằng chi phí sản xuất dở dang cuối kì ( hoặc không có sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ) thì tổng giá thành bằng tổng chi phí sản xuất trong kì. Như vậy, giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với nhau, chi phí sản xuất là đầu vào, là nguyên nhân dẫn đến kết quả đầu ra là giá thành sản phẩm. Mặt khác số liệu của kế toán tập hợp chi phí là cơ sở để tính giá thành sản phẩm.Vì vậy tiết kiệm được chi phí sẽ hạ được giá thành sản phẩm. Phân loại chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm, thực hiện lao vụ dịch vụ của các doanh nghiệp bao gồm rất nhiều loại, nhiều khoản mục với nội dung kinh tế, mục đích công dụng và phát sinh ở nhiều địa điểm khác nhau. Do vậy để đáp ứng yêu cầu quản lý thì chi phí sản xuất cần được phân loại theo những tiêu thức nhất định đáp ứng yêu cầu quản lý chi phí sản xuất mà phân loại chi phí sản xuất cho phù hợp (kể cả ở góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị). Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố (nội dung kinh tế ) của chi phí. Theo cách phân loại này, những khoản chi phí có chung tính chất kinh tế được xếp chung vào một yếu tố, không kể chi phí đó phát sinh ở địa điểm nào và chúng được dùng vào mục đích gì trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Theo chế độ kế toán hiện hành, với cách phân loại này, chi phí sản xuất được chia thành 5 yếu tố chi phí như sau: - Chi phí nguyên vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ,… mà doanh nghiệp đã sử dụng cho hoạt động sản xuất – kinh doanh trong kỳ. - Chi phí nhân công: bao gồm toàn bộ tiền lương, phụ cấp và các khoản trích theo lương theo quy định của công nhân viên chức trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.