Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận nghiên cứu về tác động của môi trường kinh doanh quốc tế đến nhập khẩu hàng hóa Chương 3: Phân tích thực trạng tác động của môi trường kinh doanh quốc tế đến hoạt động nhập khẩu linh kiện phụ tùng ô tô điện từ thị trường Trung Quốc của CTCP Thái Bình Hưng Thịnh. Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực nhập khẩu linh kiện phụ tùng ô tô điện từ thị trường Trung Quốc dưới tác động của môi trường kinh doanh quốc tế tại CTCP Thái Bình Hưng Thịnh 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ ĐẾN NHẬP KHẨU HÀNG HÓA 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Môi trường kinh doanh quốc tế 2.
Khái niệm ❖ Môi trường kinh doanh: PGS.TS Doãn Kế Bôn, TS. Lê Thị Việt Nga (2021), định nghĩa: “Môi trường kinh doanh thường được hiểu là sự tổng hợp các môi trường có liên quan và tác động tới các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố đó được phân chia thành các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài. Các doanh nghiệp gần như không thể kiểm soát được các yếu tố bên ngoài này.
Các yếu tố bên ngoài cơ bản bao gồm: các yếu tố thuộc môi trường kinh tế; các yếu tố thuộc môi trường pháp luật; các yếu tố thuộc môi trường kinh tế; các yếu tố văn hóa xã hội như thái độ, niềm tin, quan điểm, giáo dục; các yếu tố liên quan đến Địa lý tự nhiên như địa hình, khí hậu, và tài nguyên thiên nhiên; các yếu tố về công nghệ, trình độ kỹ thuật….” Như vậy, môi trường kinh doanh có thể được phân chia trong cả môi trường vĩ mô và vi mô dựa trên quan điểm: một môi trường vĩ mô thường được liên kết với các yếu tố ảnh hưởng đến tất cả các doanh nghiệp bất kể ngành nghề hoặc quy mô của họ; còn môi trường vi mô được gọi là không khí cạnh tranh kinh doanh, bao gồm các đối thủ, khách hàng và nhà cung cấp. ❖ Môi trường kinh doanh quốc tế: Theo PGS. Doãn Kế Bôn, TS. Lê Thị Việt Nga (2021), định nghĩa “Môi trường KDQT là tổng thể các yếu tố môi trường thành phần như môi trường pháp luật, chính trị, kinh tế, văn hoá,.
Những yếu tố này tồn tại ở mỗi quốc gia trong nền kinh tế thế giới, chúng tác động và chi phối mạnh mẽ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải điều chỉnh các mục đích, hình thức, và chức năng hoạt động của mình cho thích ứng, nhằm nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh và đạt hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh”. Môi trường kinh doanh quốc tế không chỉ bao gồm những yếu tố bên trong và những yếu tố bên ngoài được nêu ra ở trên mà còn bao gồm những yếu tố khác như 8 sự liên kết và hợp tác giữa các quốc gia và khu vực trên thế giới, các thỏa thuận song phương và đa phương giữa các quốc gia và khu vực, các quy định của các tổ chức quốc tế như WTO, AFTA, EVFTA, CPTPP,… 2. Phân loại ❖ Môi trường vĩ mô: GS. Nguyễn Bách Khoa, TS.
Cao Tuấn Khanh (2011), định nghĩa: “Môi trường vĩ mô bao gồm các lực lượng xã hội rộng lớn đang ảnh hưởng đến toàn cục môi trường vi mô, nội bộ doanh nghiệp và tạo ra thời cơ và mối đe dọa đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chúng không kiểm soát được,không lệ thuộc và không bị doanh nghiệp chi phối. Mức độ ảnh hưởng của mỗi yếu tố đến từng doanh nghiệp là khác nhau. Môi trường vĩ mô bao gồm: môi trường chính trị, môi trường pháp luật, môi trường kinh tế, môi trường văn hóa.
• Môi trường kinh tế: Theo PGS.TS Doãn Kế Bôn và TS. Lê Thị Việt Nga (2021): “Môi trường kinh tế bao gồm những yếu tố như tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái, sự ổn định tài chính, thuế và chính sách tài khóa đều có thể ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp tại một quốc gia cụ thể. Môi trường kinh tế có tác động đáng kể đến hoạt động kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp”. • Môi trường chính trị: Theo PGS.TS Doãn Kế Bôn và TS.
Lê Thị Việt Nga (2021): “Môi trường chính trị là một khái niệm đề cập đến yếu tố chính trị, pháp lý và quyền lực của một quốc gia hoặc một khu vực cụ thể. Môi trường chính trị là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp. Chính phủ các nước hoặc tổ chức địa phương có quyền lực để tạo ra các quy định và chính sách ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp trên toàn cầu. Điều này có thể bao gồm các quy định về bảo vệ môi trường, quy định về đầu tư và cách thức hoạt động của các doanh nghiệp”.
9 Hiện nay, chế độ chính trị của các quốc gia đều đã có sự pha trộn, mỗi nước lại chọn cho mình một chế độ riêng. Nhưng trong lịch sử gần đây, nhìn chung hệ thống chính trị trên thế giới được chia thành 3 chế độ: + Chế độ chuyên chế: là chế độ chính trị trong đó Nhà nước nắm quyền điều tiết hầu như mọi khía cạnh của xã hội. + Chế độ XHCN: Chính phủ kiểm soát những phương tiện cơ bản của việc sản xuất, phân phối và hoạt động thương mại. Chế độ XHCN trên hầu hết các quốc gia hiện nay đều được thể hiện dưới hình thức XHCN (Việt Nam, Trung Quốc,.) + Chế độ dân chủ: có hai đặc trưng cơ bản: Quyền sở hữu tư nhân (chỉ khả năng sở hữu tài sản và làm giàu bằng tích lũy tư nhân); Quyền lực có giới hạn của Chính phủ (chính phủ chỉ thực hiện một số chức năng thiết yếu cơ bản phục vụ cho lợi ích chung của nhân dân: bảo vệ quốc phượng, duy trì pháp luật, trật tự xã hội).
• Môi trường văn hóa Theo PGS.TS Doãn Kế Bôn và TS. Lê Thị Việt Nga (2021): “Văn hóa là một tổng thể phức hợp về những giá trị vật chất và tinh thần do con người kiến tạo nên và mang đặc thù riêng của mỗi một dân tộc”. Các yếu tố văn hóa bao gồm giá trị, thói quen, tập quán, quan niệm của mỗi quốc gia và chúng có ảnh hưởng đến cách mà doanh nghiệp kinh doanh quốc tế tiếp cận thị trường, sản phẩm, dịch vụ của mình. Môi trường văn hóa là tổng hòa những thành tố vật chất và tinh thần tương đối ổn định trong một thời gian và không gian cụ thể mà các cá nhân tiếp xúc và có tác động đến hoạt động của chủ thể.
Văn hóa được coi là thành phần quan trọng nhất trong nền văn minh của mỗi quốc gia vì nó thể hiện sự khác biệt giữa các xã hội thông qua ngôn ngữ, thói quen, tập quán. Nhìn chung, văn hóa có yếu tố cấu thành cơ bản là: - Ngôn ngữ, bao gồm ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời. - Tôn giáo - Các giá trị và thái độ - Phong tục tập quán và thói quen - Đời sống vật chất - Nghệ thuật 10 - Giáo dục 11 • Môi trường pháp luật: Theo PGS.TS Doãn Kế Bôn và TS. Lê Thị Việt Nga (2021): “ hệ thống pháp luật của một quốc gia là các nguyên tắc , các điều luật, điều tiết hành vi và các quy trình giúp thi hành các điều luật qua đó xử lý các tranh chấp.” Môi trường pháp luật là tổng thể các quy định pháp luật liên quan đến một lĩnh vực bất kỳ mà chủ thể thực hiện lĩnh vực đó có các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ đồng thời cũng có các nghĩa vụ kèm theo.
Các vấn đề pháp lý là một trong những yếu tố quan trọng đối với hoạt động kinh doanh quốc tế. Chúng có thể liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau, chẳng hạn như pháp luật quốc tế về hợp đồng thương mại, pháp luật về tiêu chuẩn hóa quốc tế, pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ, pháp luật quản lý ngoại thương hay pháp luật đầu tư quốc tế. Các công ty cần phải hiểu và tuân thủ các quy định pháp luật này để đảm bảo hoạt động kinh doanh của mình được thực hiện đúng pháp luật và không gặp phải các vấn đề pháp lý. Ở mỗi quốc gia, hệ thống pháp luật bao gồm những văn bản luật và những văn bản dưới luật, tạo nên một khung pháp lý cho phép hoặc hạn chế các mối quan hệ cụ thể giữa con người và các tổ chức, đưa ra các hình phạt cho những hành vi vi phạm các quy định của pháp luật.
Hệ thống pháp luật được xây dựng trên nền tảng của một chế độ chính trị và được hoàn thiện theo thời gian, phù hợp với sự thay đổi và phát triển về mặt xã hội, chính trị, kinh tế và công nghệ của mỗi quốc gia cũng như để phù hợp với luật pháp quốc tế. Môi trường pháp luật của hoạt động kinh doanh quốc tế không chỉ là hệ thống luật pháp của một quốc gia mà còn là những quy định pháp lý của các tổ chức quốc tế như các Công ước, Hiệp ước hay các Hiệp định. Ngoài ra còn có những thỏa thuận song phương, đa phương giữa hai hay nhiều quốc gia hoặc khu vực như thỏa thuận về thương mại, đầu tư hay thỏa thuận đối tác kinh tế,. ❖ Môi trường ngành Theo mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael E.
Porter, 5 yếu tố cơ bản tạo thành bối cảnh của môi trường ngành bao gồm: đối thủ cạnh tranh, người mua, người cung cấp, đối thủ tiềm ẩn và sản phẩm thay thế. 12 • Đối thủ cạnh tranh: Các doanh nghiệp trong ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp với nhau tạo ra sức ép trở ngại lên ngành tạo nên một cường độ cạnh tranh. • Quyền lực thương lượng của khách hàng (người mua): khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành, bởi họ có thể gây áp lực với doanh nghiệp về giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ đi kèm và chính họ là người điều khiển cạnh tranh trong ngành thông qua quyết định mua hàng. • Người cung cấp: bao gồm các đối tượng: người bán vật tư, thiết bị, cộng đồng tài chính, nguồn lao động.
Số lượng nhà cung cấp sẽ quyết định đến áp lực cạnh tranh, quyền lực đàm phán của họ đối với ngành, đối với doanh nghiệp. • Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: theo M.