Chương 1: Cơ sở lý thuyết về các yếu tô ảnh hưởng đến hành vi mua sắm của giới trẻ qua mạng xã hội. Chương 2: Thực trạng và tác động của mạng xã hội đến hành vi mua sắm thời trang của giới trẻ Hà Nội Chương 3: Xu hướng phát triền của mạng xã hội và gợi ý đề xuất đối với các thương hiệu thời trang nhằm tác động đến hành vi mua sắm của giới trẻ thông qua mạng xã hội. Phạm Duy Anh - DI7CQTT02-B 7 Khóa luận tôt nghiệp Đại Học Chương |: Cơ sở lý thuyêt vê các yêu tô ảnh hưởng đên hành vi mua săm thời trang của giới trẻ qua mạng xã hội CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ THUYET VE CÁC YEU TO ANH HUONG DEN HANH VI MUA SAM THỜI TRANG CUA GIỚI TRE QUA MẠNG XÃ HOI 1. Truyền thông mạng xã hội 1.
Khái niệm e Khai niệm truyền thông Truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến, ra đời và phát triển cùng xã hội loài người. Trong khoa học cũng như trong đời sống hàng ngày, hiện tượng xã hội nào càng phô biến bao nhiêu, càng có nhiều quan niệm, định nghĩa về nó bấy nhiêu. Truyền thông là một trong số các hiện tượng như vậy. Một số định nghĩa được đưa ra dé tham khảo: Theo John R.
Hober (1954), truyền thông là quá trình trao đôi tư duy hoặc ý tưởng bằng lời. Định nghĩa này đúng, nhưng chưa đủ. Bởi con người ngày nay không chỉ sử dụng tối đa các ký hiệu vốn có của mình, mà còn tìm kiếm và sáng tạo ra nhiều ký hiệu khác dé chuyên tai thông điệp, ngay khi giới hạn trong phạm vi ngôn ngữ cơ thé, có thé người ta sử dụng tổng hợp hay đơn lẻ từ ánh mắt, nụ cười đến thái độ, hành vi khác để biéu thi thông điệp của mình trong những hoành cảnh thích hợp và dem lại hiệu quả tác động nhanh nhất, mạnh nhất có thê. Adelsm thì cho rằng, truyền thông là một quá trình liên tục qua đó chúng ta hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được chúng ta.
Đó là một quá trình luôn thay đổi, biến chuyền và ứng phó với tình huống. Như vậy truyền thông phải luôn ứng biến với tình huống cụ thé, bởi tình huống giao tiếp, truyền thông thường luôn thay đổi và không lặp lại, xét trên những phương diện khác nhau. Dưới góc độ cấu trúc, Bess Sodel cho rằng, truyền thông là một quá trình chuyền đổi từ một tình huống đã có cau trúc như một tong thé sang tình huống khác theo một thiết kế có chủ đích. Như vậy, truyền thông như một quá trình thay đổi, dịch chuyển hoặc câu trúc, tái câu trúc mô thức.
Truyền thông từ tiếng Latinh là “communicare”, nghĩa là biến nó thành thông thường, chia sẻ, truyền tải. Truyền thông thường được mô tả như việc truyền ý nghĩ, thông tin, ý tưởng, ý kiến hoặc kiến thức từ một người/một nhóm người sang một người/hoặc một nhóm người khác băng lời nói, hình anh, văn bản hoặc các tín hiệu khác Phạm Duy Anh - DI7CQTT02-B 8 Khóa luận tôt nghiệp Đại Học Chương |: Cơ sở lý thuyêt vê các yêu tô ảnh hưởng đên hành vi mua săm thời trang của giới trẻ qua mạng xã hội Về thực chat, đó chính là quá trình trao đồi, tương tac thông tin, tư tưởng, tình cảm với nhau về các vẫn đề của đời sông cá nhân, liên cá nhân, nhóm xã hội, từ đó tăng vốn hiểu biết chung, hướng tới thay đối nhận thức, thái độ, chuyền đổi hành vi cá nhân hay nhóm xã hội. (Nguyễn Văn Dũng, 2011, tr. 187) Từ những định nghĩa trên, ta có thể rút ra khái niệm về truyền thông như sau: “Truyén thông (communication) là quá trình tương tác chia sẻ thông tin, ý nghĩ, ý kiến, ÿ tưởng giữa hai hoặc nhiều người với nhau.
Truyền thông tạo ra sự liên kết giữa con người với nhau bằng lời nói, cw chi, hành động, đô vật hoặc các tín hiệu khác. Truyén thông có thé tác động thay đổi nhận thức, thai độ, hành vi của con người và xã hội.” e Khái niệm mạng xã hội Mang xã hội (Social network Sites), mang xã hội trên internet, mang xã hội trực tuyến, hay còn gọi là mạng xã hội ảo là một khái niệm mới được hình thành trong thập niên cuối thế ki XX, bắt đầu bằng sự ra doi của Classmates. Với sự phát triển nhanh chóng của hình thức xã hội ảo này, mạng xã hội được định nghĩa rất khác nhau theo hướng tiếp cận. Nhờ vào các trang mạng xã hội mà cộng đồng gần nhau hơn.
Các trang mạng xã hội cũng có sự phân biệt giữa cộng đồng và cá nhân, cộng đồng là nơi mà hồ sơ hiển thị cho bat cứ ai và cá nhân là hồ sơ chỉ hiển thị cho những người bạn nhất định. Cộng đồng mạng bị ảnh hưởng bởi sự tương tác. Trong môi trường phi trung gian, ranh giới và đối tượng của một cộng đồng nhất định được cấu trúc xác định. Đối tượng được giới hạn là những người có mặt trong bán kính địa lý giới hạn trong một giới hạn trong một thời điểm nhất định của thời gian.
Cộng đồng là khái niệm bao gồm tất cả những người có thé nghe thấy điều xảy đến với cá nhân thông qua lời truyền miệng. Các công nghệ trung gian được ké đến đó là truyền hình, radio và báo chí. Các công nghệ này đã làm thay đổi quy mô cộng đồng. Các đối tượng tiềm năng bị ảnh hưởng bởi các thuộc tính của công nghệ trung gian là sự bền vững, nhân rộng và người theo dõi ấn, tính năng tìm kiếm.
Đây chính là bốn đặc tính phi trung gian của cộng đồng mạng: Phạm Duy Anh - DI7CQTT02-B 9 Khóa luận tôt nghiệp Đại Học Chương |: Cơ sở lý thuyêt vê các yêu tô ảnh hưởng đên hành vi mua săm thời trang của giới trẻ qua mạng xã hội - Bên vững: giao tiếp trên mang xã hội đều được ghi lại, điều này cho phép kéo dai thời gian tồn tại của bất kỳ giao tiếp nào. - Tinh năng tìm kiếm: Các giao tiếp đều được ghi lại và hién thị thông qua văn ban (các text lưu lại), thêm vào đó là các công cụ tìm kiếm, nhận dạng giúp người sử dụng có thé tìm thấy các thông tin cần thiết. Nếu như ở không gian phi trung gian, những người bạn có thé không ở cùng một vi tri dia lý, nhưng với tim kiếm online thì họ có thể dễ dàng tìm thấy nhau nhờ một số từ khóa. - Khả năng nhân rộng: Thông tin nghe được có thé bị lệch khi phát ngôn lại do hiểu sai, nhưng cộng đồng mạng có thê sao chép thông tin một cách nguyên văn, không hê có sự sai lệch giữa “bản gôc” và “bản sao”.
- Người theo dõi ân: Nếu như ở không gian phi trung gian, chúng ta hoàn toàn có thê nhận biết được những người đang đối thoại hoặc lắng nghe những lời nói của mình thì trên mạng xã hội (nơi có các yếu tố trung gian) chúng ta không thé nhận biết được họ. Một cách chung nhat, mạng xã hội là tập hợp các cá nhân với các môi quan hệ về một hay nhiều mặt được gan kết với nhau (Tạp chí tâm lý học số 7, 2014). Theo Nghị định số 27/2018/NĐ-CP ban hành ngày 01 tháng 3 năm 2018 bởi Nhà nước Việt Nam, mạng xã hội (social network) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đôi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tao trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác Với hướng tiếp cận xã hội, nhân mạnh yếu tố con người, mạng xã hội được nghiên cứu trên quan hệ cá nhân — cộng đồng dé tạo thành mạng lưới xã hội. Mạng lưới xã hội được hiểu là một tập hợp các mối quan hệ giữa các thực thé xã hội gọi chung là actor.
Các thực thé xã hội này không nhất thiết chỉ là các cá nhân mà còn là các nhóm xã hội. Khi mạng lưới xã hội này được thiết lập và phát triển thông qua phương tiện truyền thông internet, nó được hiéu là mang xã hội ảo Như vậy, có thê khái quát khái nệm mạng xã hội như sau: Phạm Duy Anh - DI7CQTT02-B 10 Khóa luận tôt nghiệp Đại Học Chương |: Cơ sở lý thuyêt vê các yêu tô ảnh hưởng đên hành vi mua săm thời trang của giới trẻ qua mạng xã hội “Mang xã hội là một dich vụ két noi các thành viên cùng sở thích trên internet với nhau, với nhiều muc đích khác nhau, không phân biệt không gian và thời gian.” e Khai niệm truyền thông mạng xã hội Quá trình truyền thông xã hội (Social communication) phải thông qua các phương tiện truyền thông xã hội (Socialmedia). Các phương tiện truyền thông xã hội là các công cụ, ứng dụng giao tiếp đại chúng dựa vào không gian trực tuyến (online spaces) trên nền tảng internet và các công nghệ truyền thông hiện đại khác nhằm chuyền tải thông tin, kết nối mọi người, giao dịch.với tốc độ truyền dẫn, lan toả nhanh chóng, trên diện rộng, cùng tính tương tác cao, sự chủ động của người dung, hình thành nên các mỗi quan hệ xã hội, cộng đồng tương tác (interactive community) xã hội đa dạng, có tác động sâu rộng vào mọi lĩnh vực của đời sống chính trị - kinh tế - văn hóa — xã hội và đời sống cá nhân của mỗi người dùng. (Lê Hải, 2017, tr.9) Các phương tiện truyền thông xã hội hiện nay đang tồn tại rất nhiều trên thế giới internet trực tuyến, và được sử dụng bởi nhiều quốc gia khác nhau.
Có thé ké tên các ứng dụng tiêu biéu được sử dụng tại nhiều quốc gia như Facebook, YouTube, Instagram, hay Weibo là ứng dụng mạng xã hội riêng dành cho thị trường Trung Quốc, tại Việt Nam những năm 2011 đến 2014 có Zing Me hay Go. Tất cả tuy khác nhau về tên gọi nhưng đều có chung mục dich là kết nối mọi người, chuyên tải thông tin,. dé từ đó tạo nên một cộng đông và các môi quan hệ xã hội. Cũng như các phương tiện truyền thông đại chúng, các phương tiện truyền thông xã hội là một định chế xã hội, một thành tố của cau trúc xã hội.
Nó là một định chế xã hội nam trong định chế văn hóa, đồng dang và có quan hệ tác động qua lại biện chứng với các định chế xã hội khác, như chính trị, kinh tế, thân tộc (gia đình, huyết thống). Bởi vậy, các phương tiện truyền thông xã hội tự thân nó đã mang bản chất xã hội, dù phát triển ở giai đoạn, trình độ nào.