phần mở đầu, nhằm làm sáng tỏ những khái niệm, cơ sở lý thuyết của đề tài, trong phần này các khái niệm, lý luận về KT-ĐG KQHT và phương pháp học cũng như mối quan hệ ảnh hưởng giữa chúng sẽ lần lượt được trình bày. Chương 2 bao gồm ba phần chính. Phần thứ nhất giới thiệu một số khái niệm cơ bản trong KT-ĐG KQHT. Phần thứ hai giới thiệu một số khái niệm cơ bản trong phương pháp học của SV.
Phần thứ ba giới thiệu mô hình nghiên cứu về những ảnh hưởng của KT-ĐG KQHT đến phương pháp học của SV. Một số khái niệm cơ bản trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập Kiểm tra Trong Từ điển Giáo dục học [29, tr.1] thì kiểm tra được định nghĩa là “Bộ phận hợp thành của quá trình hoạt động dạy – học nhằm nắm được những thông tin về trạng thái và kết quả học tập của học sinh, về những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm ra những biện pháp khắc phục những lỗ hổng, đồng thời củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy – học” [29]. Kiểm tra là việc thu thập những dữ liệu thông tin về một lĩnh vực nào đó làm cơ sở cho việc đánh giá [4]. Những dữ liệu về nhận thức, kỹ năng và thái độ trong các môn học đã được đưa ra từ mục tiêu của môn học.
Đây là những cơ sở để GV đưa ra những đánh giá. Kiểm tra có nhiều hình thức khác nhau như: Kiểm tra định kỳ, kiểm tra thường xuyên, kiểm tra tổng kết [4]. Đo lường 23 Đo lường là sử dụng mọi hình thức, phương tiện để tìm hiểu về một (hay nhiều) khía cạnh nào đó của một (hay nhiều) người. Có nghĩa là đo lường cũng đề cập đến các phương thức, công cụ để đưa ra những căn cứ, cơ sở cho đánh giá [22].
Lê Đức Ngọc (2005), đo lường trong giáo dục là quá trình thu thập thông tin một cách định lượng (số đo) về các đại lượng đặc trưng của quá trình giáo dục (nhận thức, tư duy, kỹ năng và phẩm chất nhân văn) [12]. Như vậy, khái niệm đo lường cũng gần giống với khái niệm kiểm tra. Tuy nhiên, khái niệm đo lường rộng hơn khái niệm kiểm tra. Kiểm tra chủ yếu đề cập đến các hình thức kiểm tra để cung cấp các dữ liệu, thông tin còn đo lường không những đề cập đến các hình thức mà cả các phương tiện nữa [23].
Đánh giá Có nhiều định nghĩa khác nhau về đánh giá (Assessment - Evaluation) trong lĩnh vực giáo dục, tùy thuộc nhiều vào cấp độ đánh giá, vào đối tượng hay mục đích cần đánh giá. Lê Văn Hảo [23, tr.29] thì hai thuật ngữ Assessment và Evaluation không được sử dụng thống nhất, ngay cả giữa những người nghiên cứu về giáo dục trong cùng một quốc gia. Ở nước ta hai thuật ngữ này được sử dụng tương đương: đó là một quá trình thu thập, xử lý thông tin đa chiều để từ đó đưa ra những nhận xét hay kết luận về người học, môn học, khóa học, hay về một lĩnh vực nào đó trong hoạt động giáo dục – trên cơ sở các mục tiêu đã đề ra. Với quan niệm như vậy thì kiểm tra và đo lường chỉ là một bộ phận của đánh giá, khái niệm này cũng chỉ ra cho ta thấy mối liên hệ giữa đánh giá và mục tiêu của môn học hay khóa học.
Mục tiêu của môn học đóng vai trò định hướng, làm căn cứ cho việc đánh giá. Điều đó cũng có nghĩa là 24 muốn đánh giá kết quả học tập của SV thì cũng đồng thời phải thiết kế các mục tiêu của các bài học trong từng môn học nhất định, lấy đó làm căn cứ để đánh giá. Theo các nhà nghiên cứu Erwin (1999), Cizek (1997), Lambert and Lines (2000) thì đánh giá là “Quá trình xác định, lựa chọn, thiết kế, thu thập, phân tích, diễn dịch và sử dụng thông tin để tăng chất lượng học tập của người học, và để người học phát triển kiến thức và kỹ năng”[18] Theo PGS. Trần Khánh Đức, đánh giá là quá trình thu thập chứng cứ và đưa ra những nhận định, phán xét về mức độ đạt được theo các tiêu chí đã được đưa ra trong tiêu chuẩn hay kết quả học tập [29].
Lâm Quang Thiệp, đánh giá là căn cứ vào các số đo và các tiêu chí xác định năng lực và phẩm chất của sản phẩm đào tạo để nhận định, phán đoán và đề xuất các quyết định nhằm nâng cao không ngừng chất lượng đào tạo [20]. Phạm Xuân Thanh cho rằng, đánh giá là một thuật ngữ chung để chỉ việc thu thập thông tin một cách có hệ thống và xử lý, phân tích dữ liệu làm cơ sở để đưa ra các quyết định nhằm nâng cao chất lượng giáo dục [2]. Có thể nói thuật ngữ đánh giá là thuật ngữ có tính tổng quát nhất trong các thuật ngữ về lĩnh vực đánh giá trong giáo dục. Nó không chỉ dừng lại ở chỗ cho biết người học đã đạt được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ đến mức độ nào sau một quá trình học tập mà còn đưa ra những nhận định, phán xét theo một thang đo nhất định cho người học, từ đó ra quyết định có liên quan đến người học.
Đồng thời đánh giá có tác động đến người đánh giá và người được đánh giá: Cung cấp thông tin phản hồi để từ đó đưa đến sự điều chỉnh. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về đánh giá nhưng chúng ta có thể thấy điểm chung giữa những định nghĩa này đó là: Đều nhận thấy đánh giá 25 là một quá trình chứ không phải là một cái gì đó riêng lẻ và đối tượng của hoạt động đánh giá là quá trình học tập của người học và quá trình đánh giá đều tìm các thông tin, cơ sở để đưa ra những đánh giá dựa vào các mục tiêu đã đề ra của môn học.Ornstein và Thomas J.404 - 406] thì đánh giá có thể được chia làm bốn kiểu đánh giá : Đánh giá xếp loại, đánh giá sát hạch, đánh giá theo dõi, đánh giá kết quả. Đánh giá xếp loại: Là đánh giá giúp cho việc phân loại học sinh trước khóa học, tiến hành vào đầu học kỳ. Đánh giá sát hạch: Là một phương tiện tìm hiểu và theo dõi những khó khăn trong việc học tập, việc kiểm tra đánh giá này có thể cung cấp những thông tin có thể tạo điều kiện cho SV vượt qua những thất bại.
Trong nhiều trường hợp, đánh giá sát hạch và đánh giá theo dõi mang tính chồng chéo, kiểm tra theo dõi chủ yếu liên quan đến sự tiến bộ của học sinh, nhưng việc thiếu tiến bộ có thể cho thấy một vấn đề nào đó mà phải dùng kiểu đánh giá sát hạch để tìm ra. Đánh giá theo dõi: Dùng để theo dõi sự tiến bộ trong suốt quá trình học, giáo viên phải cho học sinh kiểm tra thường xuyên trong suốt một khóa học hay học kỳ, trong suốt quá trình đó còn phải có những cải tiến phù hợp. việc dạy học có thể được cải tiến dựa trên những phản hồi mà việc kiểm tra đánh giá theo dõi cung cấp. Benjamin Bloom và các cộng sự của ông đã mô tả việc kiểm tra đánh giá theo dõi như là một công cụ dạy học chính.
Đánh giá theo dõi rất quan trọng đối với kết quả học tập của học sinh. Các nghiên cứu cho thấy rằng những bài kiểm tra đánh giá theo dõi nâng cao mang lại kết quả học tập đáng kể và rất có ý nghĩa đối với học sinh. Nếu giáo viên chấm bài thi theo cách cho học sinh thấy được họ có thể cải thiện việc làm bài như thế nào thì việc học tập của học sinh tỏ ra thực sự và đáng khích lệ. 26 Đánh giá kết quả: Là đánh giá cho biết kết quả của việc dạy và học vào cuối mỗi học phần hay học kỳ.
Nó được thiết kế để xác định xem mục đích dạy học đã được học sinh lĩnh hội ở mức độ nào và nó được sử dụng chủ yếu để chứng nhận bằng cấp hay cho điểm học sinh. Trong khi đánh giá theo dõi cung cấp những nhận xét có tính chưa quyết định về việc học tập đã diễn ra và việc học tập cần thực hiện, đánh giá kết quả lại diễn ra khi việc dạy và học đã xong và là sự đánh giá cuối cùng. Đánh giá kết quả học tập Có nhiều định nghĩa khác nhau về kết quả học tập như “Kết quả học tập là bằng chứng sự thành công của học sinh/SV về kiến thức, kĩ năng, năng lực, thái độ đã được đặt ra trong mục tiêu giáo dục” (James Madison University, 2003; James O. Nichols, 2002) hay “Kết quả học tập của SV bao gồm các kiến thức, kĩ năng và thái độ mà họ có được”.
Trường Cabrillo quan niệm về kết quả học tập của SV “là kiến thức, kỹ năng và thái độ SV đạt được và phát triển trong suốt khóa học” [39]. Nhìn một cách khái quát thì các khái niệm về kết quả học tập chủ yếu bao gồm các kiến thức, kỹ năng, thái độ SV đạt được trong quá trình học tập. Tùy theo mục đích của việc đánh giá mà khái niệm đánh giá kết quả học tập có thể được hiểu theo hai cách sau đây [2, tr.23]: Đánh giá kết quả học tập được xem là xác định mức độ thành công trong học tập của học sinh khi xem xét trong mối quan hệ với mục tiêu đã xác định, các chuẩn kiến thức và kỹ năng đạt được so với công sức và thời gian mà người học bỏ ra. Theo định nghĩa này thì đánh giá kết quả học tập là xác định mức độ thực hiện theo tiêu chí.
Đánh giá kết quả học tập được xem là xác định mức độ thành tích đạt được của một học sinh so với các bạn cùng học. Theo định nghĩa này thì đánh giá kết quả học tập là xác định mức độ đạt chuẩn. 27 Như vậy, đánh giá kết quả học tập là xác định mức độ nắm bắt kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của người học so với yêu cầu của chương trình đề ra [28]; Đưa ra những nhận định, nhận xét về mức độ đạt được, về tốc độ và trình độ lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ ở người học, từ đó làm cơ sở cho việc đề ra những biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy học nói chung và kết quả học tập nói riêng [2, tr. Phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập Để tiến hành việc KT-ĐG KQHT của SV, GV phải xác định đánh giá cái gì, đánh giá để làm gì và từ đó xác định đánh giá như thế nào.