CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Cho đến nay, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về Kiểm soát nội bộ cũng như tự chủ tài chính. Có thể tổng hợp các công trình nghiên cứu đó theo các vấn đề chính như sau: 1. Nghiên cứu các vấn đề chung về Kiểm soát nội bộ (KSNB) Trong những năm 1970 - 1980, nền kinh tế ở Hoa-Kỳ và các-nước-phát-triển mạnh mẽ, các công-ty cạnh tranh gay gắt, làm phát sinh nhiều rủi ro, kéo theo tình trạng gian lận, vi phạm pháp luật gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế.
Năm 1977, Luật về phòng chống hối lộ nước ngoài ra đời, AICPA đã thành lập một Ủy ban đặc biệt về kiểm soát nội bộ (1979), Ủy ban quản lý chứng khoán Mỹ (Securities and Exchange - SEC) đưa ra quy định bắt buộc các giám đốc phải đưa ra báo cáo về kiểm soát nội bộ đối với công tác kế toán ở các doanh nghiệp. Trước thực trạng đó, nhiều ủy ban đã được thành lập nhằm nghiên cứu tìm cách khắc phục hậu quả và ngăn chặn các gian lận, hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế, trong đó có Ủy ban COSO (Committee Of Sponsoring Organizations) ra đời năm 1985 là một uỷ ban gồm nhiều tổ chức nghề nghiệp nhằm hỗ trợ cho Uỷ ban Treadway như: Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hội kế toán Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội các nhà quản trị tài chính (FEI), Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA) và Hiệp hội kế toán viên quản trị (IMA) đã đưa ra khuôn mẫu lý thuyết chuẩn cho kiểm soát nội bộ. Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu và định nghĩa về kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ và có hệ thống, cung cấp một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị. Kiểm soát nội bộ không chỉ còn là một vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà được mở rộng ra các phương diện hoạt động và tuân thủ.
Nghiên cứu Internal Control của tác giả Charles A. Saia (1992) đề cập tới khả năng ứng dụng/thực hiện các tiêu chuẩn khuôn khổ về kiểm soát nội bộ của COSO trong các công ty. Tác giả đã thực hiện một cuộc điều tra tại một công ty sản xuất hàng đầu ở Conecticut về sự giải thích của nhân viên các cấp về KSNB và những giới hạn của hệ thống này. Lý giải cho sự lựa chọn này, tác giả cho rằng, việc hỏi lãnh đạo kế toán và các nhân viên tại một tổ chức lớn sẽ cho kết quả kiểm tra các dòng thông tin giữa quản lý cấp trên và nhân viên cấp dưới tốt hơn.
Hai nhóm được phỏng vấn là nhóm “staff” (bao gồm chuyên viên phân tích tài chính, chuyên viên phân tích tài chính cao cấp, chuyên viên phân tích hệ thống cao cấp, và kiểm toán nội bộ) và nhóm “line” (bao gồm trợ lý kiểm soát, giám sát các chi phí kế toán, và cán bộ quản lý). 6 Tổng số người được phỏng vấn là 25, trong đó nhóm “staff” gồm 20 người, nhóm “line” gồm 5 người. Tác giả đã tiến hành thu thập thông tin bằng việc sử dụng bảng hỏi với 11 câu hỏi tập trung làm rõ nhận thức và hiểu biết của người được hỏi về kiểm soát nội bộ, kết hợp quan sát, phỏng vấn sâu. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhà quản lý có sự hiểu biết tốt về kiểm soát nội bộ nhưng các nhân viên thì không, hầu hết các nhân viên đều tỏ ra bối rối khi được hỏi về sự hiểu biết của họ về kiểm soát nội bộ và họ không hiểu được các yếu tố cần thiết để đạt được một hệ thống kiểm soát nội bộ tốt.
Tác giả kết luận, các báo cáo được cung cấp bởi COSO có thể giúp mọi người thuộc tất cả các ngành nghề có thể hiểu về KSNB tốt hơn, và trong một số trường hợp, hệ thống thông tin có thể phải thực hiện kiểm soát nội bộ một cách khó khăn hơn để duy trì. Tác giả cũng cho rằng, nếu có các nghiên cứu tương tự được thực hiện tại các đơn vị có cùng quy mô, kết quả sẽ tin cậy hơn, và vấn đề cốt lõi là các nhân viên trong đơn vị cần phải hiểu biết về kiểm soát nội bộ cũng như tầm quan trọng của hệ thống này. Qua việc phân tích sâu các khái niệm và các thành tố của kiểm soát nội bộ được đề cập trong báo cáo của COSO, kết hợp với khảo sát thực tế về mức độ hiểu biết của doanh nghiệp cụ thể, tác giả Charles A. Saia đã mang đến một cái nhìn cụ thể hơn về các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB: môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin và truyền thông, Giám sát.
Có thể nói, nghiên cứu này là một khảo sát thực tế cho báo cáo của COSO trong những ngày đầu ban hành dự thảo trưng cầu ý kiến và phát hành báo cáo của COSO. Nhiều công trình nghiên cứu về KSNB của các nhà nghiên cứu đề cập đến khái niệm về kiểm soát nội bộ, các loại hình kiểm soát trong mối quan hệ với kiểm toán nội bộ hoặc kiểm toán tài chính như: Các nguyên tắc của kiểm toán, tác giả O. Ray Wittington và Kurt Pany (1995); Kiểm toán, tác giả Jack C. Robertson (1996); Kiểm toán nội bộ hiện đại của tác giả Victor Z.
Brink và Herbert Witt (2000); Kiểm toán nội bộ hiện đại kế thừa quan điểm của Brink, tác giả Robert R. Trong đó, tác giả Robert R. Moeller (2009) khi phát triển thêm lý luận của COSO ứng dụng cho mục đích của kiểm toán nội bộ, đã bổ sung thêm một số mục tiêu của kiểm soát nội bộ cần đạt được và khái quát “Kiểm soát nội bộ là một quá trình được thiết kế bởi nhà quản lý và áp dụng trong đơn vị nhằm cung cấp sự đảm bảo hợp lý về: Độ tin cậy của thông tin tài chính và thông tin hoat động; Tuân thủ các chính sách, thủ tục, nội qui, quy chế và luật pháp; Bảo vệ tài sản; Thực hiện được sứ mệnh, mục tiêu và kết quảcủa các hoạt động hoặc chương trình của đơn vị; Đảm bảo tính chính trực và giá trị đạo đức”. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về khái niệm hệ thống KSNB, các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB, vai trò và trách nhiệm của các đối tượng có liên quan đến 7 KSNB, những hạn chế tiềm tàng của hệ thống KSNB, trình tự và phương pháp nghiên cứu hệ thống KSNB của kiểm toán viên chủ yếu là các giáo trình, sách, tạp chí, bài viết.
Các nghiên cứu về kiểm soát nội bộ trong trường đại học Vai trò quan trọng của kiểm soát nội bộ đối với quản lý từ lâu đã luôn là đề tài thu hút sự quan tâm cả trong thực tiễn và lý luận. Các nhà nghiên cứu đã khai thác đề tài này từ nhiều khía cạnh và lĩnh vực khác nhau. Có thể thấy, kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp nhận được sự quan tâm đặc biệt từ phía các nhà khoa học bởi nó gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của từng doanh nghiệp cũng như sự tồn tại, hưng thịnh hay suy thoái của mỗi doanh nghiệp này. Song, bên cạnh đó, cũng có các nhà nghiên cứu quan tâm tới kiểm soát nội bộ trong một lĩnh vực khác khá đặc biệt - giáo dục đại học.
Sự đặc biệt được mang lại từ chính vai trò, chức năng, nhiệm vụ, hoạt động đặc thù của các tổ chức giáo dục. Mặc dù số lượng các công trình nghiên cứu về kiểm soát nội bộ trường đại học còn hạn chế nhưng các nhà nghiên cứu cũng đã góp phần hoàn thiện dần bức tranh về kiểm soát nội bộ trong tổ chức giáo dục đại học. Nghiên cứu The establishment of the internal control frame system of college (Weixing Wang, 2010) đã thiết lập một khung kiểm soát nội bộ cho các trường đại học. Trong nghiên cứu này, tác giả khẳng định, chìa khóa để thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ của các trường đại học là phải xác định được mục tiêu KSNB và các yếu tố của nó.
Theo tác giả, trường đại học cũng là một tổ chức kinh tế nên có nhiều yêu cầu trong kiểm soát nội bộ giống như các doanh nghiệp, nhưng trường đại học là tổ chức phi lợi nhuận và hơn nữa, mục tiêu hoạt động của trường đại học có sự khác biệt đáng kể so với mục tiêu của doanh nghiệp, do vậy mục tiêu của KSNB của các trường đại học không đơn giản là chỉ sao chép các báo cáo của COSO. Theo đặc điểm và hoạt động thực tế, các mục tiêu kiểm soát nội bộ của các trường đại học có thể được xác nhận từ khía cạnh sau: Tính an toàn và toàn vẹn của tài sản; Thông tin kế toán thực tế, đầy đủ và hữu ích; Tính hiệu lực, hiệu quả của hoạt động đào tạo; và Chấp hành các quy định của pháp luật. Tác giả cho rằng, dựa trên đặc điểm quản lý của các trường đại học, các yếu tố của KSNB trong các tổ chức này nên được chia thành 2 lớp. Lớp đầu tiên bao gồm: Môi trường kiểm soát, Các hoạt động kiểm soát, và Giám sát, đánh giá.
Trong đó, môi trường kiểm soát là cơ sở, các hoạt động kiểm soát là cốt lõi, và sự giám sát và đánh giá là bảo đảm. Các yếu tố như: Tổ chức và văn hóa; Thông tin và truyền thông; Quản lý Ngân sách; Thủ tục kiểm soát và phương pháp kiểm soát; Nhận dạng và kiểm soát rủi ro, là lớp yếu tố thứ 2 của KSNB. Cơ cấu tổ chức và văn hóa, Thông tin truyền thông là lớp yếu tố thứ 2 phân tích từ Môi trường kiểm soát. Các yếu 8 tố còn lại là lớp yếu tố phân tích thứ 2 của Hoạt động kiểm soát.
Việc giám sát đánh giá chỉ là 1 yếu tố nhưng lại có 2 khía cạnh: Việc giám sát là để chuyển thông tin đến các cơ quan kiểm tra bằng cách quan tâm đến kết quả của thời gian nhất định, để sửa chữa các sai lệch của các mục tiêu; Các đánh giá là để giám sát và kiểm soát việc kiểm soát nội bộ của các phòng ban chức năng khác nhau, và bởi việc đánh giá, tình hình cơ bản của kiểm soát nội bộ có thể được mô tả, và các bộ phận yếu kém trong kiểm soát nội bộ có thể được tư vấn và được cải thiện. Như vậy, so với các nghiên cứu thường thấy về kiểm soát nội bộ, nghiên cứu của tác giả Weixing Wang đã có một sự phân lớp rõ rệt, đồng thời, yếu tố Tổ chức và văn hóa được đề cập tới như một yếu tố quan trọng của KSNB.