CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài 1. Giới thiệu đề tài GDĐH là một trong những vấn đề được Đảng, Nhà nước và nhân dân đặc biệt quan tâm. Điều này được thể hiện rất rõ trong Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa trong điều kiện nền Kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.
Nghị quyết đã nêu rõ mục tiêu của giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam là tập trung đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất, nâng cao năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo. Mục tiêu đến năm 2020, GDĐH Việt Nam có bước chuyển cơ bản về chất lượng, quy mô, tiếp cận trình độ trong khu vực và trên thế giới. Để đạt được các mục tiêu trên, bên cạnh sự cố gắng, nỗ lực của các trường đại học (ĐH) khối công lập thì khối trường đại học ngoài công lập (ĐHNCL) hiện nay cũng đang góp phần nâng cao năng lực giáo dục, đào tạo, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của xã hội. Theo thống kê của BGD&ĐT, tính đến hết năm 2018, Việt Nam có 65 trường ĐHNCL, chiếm 38,2% tổng số các trường ĐH trên toàn quốc.
Cùng sự phát triển về số lượng trường, số lượng sinh viên (SV) của các trường ĐHNCL cũng có quy mô tăng tương ứng. Cụ thể, số SV tuyển mới hệ ĐH của các trường ĐHNCL năm học 2017- 2018 là 84.174 SV, chiếm tỷ lệ 23,85% số SV của cả nước. Số lượng giảng viên (GV) trong khối trường này năm học 2017-2018 là 15.759 người, chiếm tỷ lệ 26,6% tổng số GV cả nước. Hằng năm khối trường ĐHNCL cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động trẻ có trình độ, kiến thức nhằm phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội của đất nước.
Tuy nhiên chất lượng giáo dục (CLGD) trong các trường ĐHNCL ở Việt Nam là một vấn đề còn gây nhiều tranh cãi. Trong suốt quá trình hình thành và phát triển qua hơn 20 năm, chất lượng GDĐH (CLGDĐH) tại khối trường này còn bộc lộ những dấu hiệu chưa đảm bảo. Cụ thể, trong khi quy mô, số lượng SV tăng nhanh chóng nhưng điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo một số trường thì chưa tương xứng. Theo báo cáo của GD&ĐT (2017), các trường ĐHNCL có vốn đầu tư ban đầu còn ít, nguồn thu chủ yếu để phục vụ hoạt động của nhà trường là từ học phí.
Năng lực đào tạo của một số trường chưa đáp ứng được số lượng học viên mà các nhà trường hiện có. Cụ thể là các sự đảm bảo về cơ sở vật chất, trang thiết bị thí nghiệm, thực hành, thư viện, luan an 2 đội ngũ GV, công nhân viên,… Chính vì vậy đã dẫn tới thực trang chất lượng đào tạo một số ngành học không đạt tiêu chuẩn theo quy định của BGD&ĐT. Đặc điểm đội ngũ GV cơ hữu tại các trường ĐHNCL thường tập trung ở 2 nhóm. Thứ nhất là đối tượng cao tuổi là các GV có chức danh giáo sư và phó giáo sư, đã từng giảng dạy ở các trường ĐH khác và chiếm khoảng 5% tổng số GV của hệ thống các trường ngoài công lập.
Thứ hai là đối tượng GV, cán bộ quản lý trẻ, mới tốt nghiệp các trường ĐH, do đó trình độ chưa cao, thiếu kinh nghiệm, Về cơ sở vật chất, tính đến thời điểm năm 2018, hiện có 12 trường ĐHNCL đang phải đi thuê cơ sở đào tạo, trong đó có 05/12 trường là những cơ sở đào tạo đã được thành lập trên 20 năm. Một số trường có quá nhiều cơ sở, diện tích của một cơ sở nhỏ do các nhà quản lý chưa có tầm nhìn dài hạn để tạo ra một môi trường học thuật. Bên cạnh đó, ở một số ngành thuộc khối ngành kỹ thuật, công nghệ các điều kiện về trang thiết bị, phòng thí nghiệm, cơ sở thực hành còn hạn chế và không được cập nhật liên tục. Hệ thống thư viện của một số trường còn yếu, số lượng học liệu không đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu của GV và SV.
Về công tác nghiên cứu khoa học, hiện nay có 51/65 trường ĐHNCL chưa thực hiện đề tài khoa học cấp nhà nước, trong đó có 50% số trường chưa tài trợ hay đầu tư cho thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa hoc cấp trường. Ngoài ra, việc công bố các đề tài nghiên cứu khoa học của khối trường này trên hệ thống tạp chí trong và ngoài nước còn nhiều hạn chế, thậm chí một số trường không có bài báo trong nước. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, do chất lượng đầu vào của SV không đồng đều và thường thấp hơn mặt bằng chung, việc đào tạo tại các trường ngooài công lập còn gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, chương trình đào tạo theo đánh giá của SV là còn các bất cập về tỷ lệ giữa lý thuyết - thực hành và lộ trình đào tạo.
Từ những dấu hiệu không đảm bảo về CLGDĐH tại các trường ĐHNCL nêu trên có thể nhận thấy đây là một vấn đề trọng yếu, ảnh hưởng đến việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước và suy giảm niềm tin ở người dân về CLGD của nước nhà. Thực tế trên cũng cho thấy sự yếu kém trong vấn đề quản trị tại các trường ĐH. Có thể nhận thấy rõ ràng tính tuân thủ nguyên tắc, chế độ trong GDĐH ở một số trường ĐHNCL chưa được đảm bảo và đồng thời hiệu quả trong công tác giáo dục đào tạo cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện nay. Nâng cao CLGDĐH là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay không chỉ đối với các trường ĐH công lập mà cả đối với các trường ĐHNCL.
Vậy yếu tố nào đã ảnh hưởng đến CLGD của các trường ĐHNCL ở Việt Nam? luan an 3 Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng CLGD không chỉ bị ảnh hưởng từ nhiều yếu tố bên ngoài như thể chế chính trị, xã hội, văn hóa, tôn giáo, xu hướng phát triển kinh tế (Dobre, Iuliana, 2015) mà còn chịu ảnh hưởng từ các yếu tố bên trong các trường ĐH. Một trong nhiều nguyên nhân được nhắc tới từ khía cạnh nội bộ là KSNB đã không có hiệu lực, mất tác dụng trong việc ngăn ngừa, phát hiện sớm để làm giảm ảnh hưởng của hành vi gian lận hoặc bất tuân thủ. Các nghiên cứu của Duh Rong-ruey, Chen Kuo-tay, Lin Ruey-ching, Kuo Li-chun (2014); Popescu, M. Bulletin (2012); Wang, Weixing (2010),… đã chỉ ra rằng kiểm soát nội bộ (KSNB) có quan hệ chặt chẽ với hiệu quả hoạt động và CLGD của các trường ĐH.
Chính vì vậy việc KSNB trong các trường ĐHNCL ở Việt Nam chưa có hoặc còn thiếu các hoạt động kiểm soát (HĐKS), giám sát (GS) hiệu quả, để vi phạm các quy định về GDĐH, làm cho các trường không đạt CLGDĐH chính là một trong những hạn chế mà KSNB trong khối trường này cần phải khắc phục. Do đó, việc nghiên cứu tìm ra mối quan hệ cũng như đo lường mức độ ảnh hưởng KSNB đến chất CLGDĐH tại các trường ĐHNCL ở Việt Nam để nhằm đảm bảo và nâng cao CLGD là một yêu cầu cấp thiết hiện nay. Xuất phát từ tính cấp thiết này tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của những yếu tố kiểm soát nội bộ tới chất lượng giáo dục đại học của các trường đại học ngoài Việt Nam” làm luận án tiến sỹ của mình. Tổng quan nghiên cứu Qua quá trình nghiên cứu cứu và tìm hiểu các tài liệu khác nhau đối với những khía cạnh có liên quan đến luận án mà tác giả dự định nghiên cứu, tác giả nhận thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến ảnh hưởng của KSNB đến các hoạt động, hiệu quả hoạt động, quản trị tổ chức, quản trị rủi ro trong đơn vị (gồm các đơn vị vì lợi nhuận và các đơn vị phi lợi nhuận).
Các nghiên cứu này được thực hiện tại nhiều quốc gia trên thế giới ở những giai đoạn thời gian khác nhau, tác giả xin trình bày một số công trình tiêu biểu như sau: 1. Nghiên cứu về ảnh hưởng của KSNB tới hoạt động trong đơn vị Nghiên cứu công bố về ảnh hưởng của KSNB tới các hoạt động trong phạm vi đơn vị được thực hiện theo một số hướng sau đây: i). Ảnh hưởng của KSNB tới quản trị doanh nghiệp Có nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rằng tồn tại mối quan hệ theo hướng tích cực giữa KSNB và quản trị doanh nghiệp. luan an 4 Figen Canbay và các đồng sự (2018) cho rằng KSNB là yếu tố cơ bản để doanh nghiệp đạt được các mục tiêu trong quản lý.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có một mối quan hệ có ý nghĩa tích cực giữa chỉ số quản trị doanh nghiệp và KSNB, đồng thời từng yếu tố thuộc KSNB đều có mối quan hệ tích cực với quản trị doanh nghiệp. Dumitrascu Mihaela và cộng sự (2012) khi thực hiện phân tích hiệu quả của KSNB trong các công ty được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Bucharest ở Romanian đã chứng minh được rằng KSNB hiệu quả dẫn đến việc trình bày báo cáo tài chính một cách minh bạch và chính xác. Điều này làm gia tăng sự tin tưởng của các bên liên quan đến báo cáo tài chính của các công ty. Nghiên cứu cũng cho rằng quản trị doanh nghiệp và KSNB không nên được xem xét và duy trì một cách độc lập mà phải trên quan điểm song hành nhau.
Một tổ chức nếu không có những quan điểm dài hạn về quản trị dài hạn, thì cũng không thể có một cơ chế KSNB hiệu quả và bền vững. Vì vậy, quản trị doanh nghiệp sẽ hoàn toàn hiệu quả nếu có KSNB tốt. Inaam Al-Zwyalif (2015) thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa KSNB và quản trị doanh nghiệp tại các công ty bảo hiểm tại Jordan. Dựa trên kết quả phân tích thống kê, nghiên cứu chỉ ra rằng tất cả các yếu tố của KSNB như môi trường kiểm soát (MTKS), đánh giá rủi ro (ĐGRR), hoạt động giám sát (HĐKS), thông tin truyền thông (TTTT) và giám sát (GS) góp phần củng cố, nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp (bao gồm tính công bằng, trách nhiệm và minh bạch) ở mức độ cao.
Những kết quả này cho thấy KSNB có một vai trò quan trọng trong việc tăng cường hiệu quả quản trị tại các công ty bảo hiểm Jordan, và để có sự thành công của quản trị doanh nghiệp đòi hỏi phải tuân thủ tất cả các yếu tố của KSNB.