CHƯƠNG 1 Hoạt động mua bán sáp nhập gọi tắt là M&A đã từ lâu, trở thành một phương án phát triển ưu tiên số 1 đối với doanh nghiệp. Trên thế giới, lịch sử M&A đã có từ rất lâu, và chính hoạt động M&A đã tạo ra rất nhiều các tập đoàn hùng mạnh, vì lẽ đó M&A đã thể hiện là một phương án đầu tư đúng đắn nhằm phát triển doanh nghiệp. Song, để tiến hành thương vụ M&A, các nhà quản trị, cổ đông công ty có rất nhiều lý do, động cơ, tuy nhiên, M&A sẽ tác động như thế nào đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Trong chương 2, tác giả sẽ xem xét các bài nghiên cứu của các tác giả trên thế giới về tác động M&A đến hiệu quả của doanh nghiệp.
5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN, TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Một số khái niệm về hoạt động M&A Trên các diễn đàn và các tài liệu học thuật, để diễn đạt về hoạt động Mergers and Acquisitions (M&A) của công ty, thuật ngữ Sáp nhập và mua lại đã được sử dụng rất phổ biến ở Việt Nam hiện nay. Theo Nguyễn Hòa Nhân (2009) M&A có nghĩa là sáp nhập (Mergers) và mua lại (Acquisitions) hay hợp nhất và thâu tóm. Tuy nhiên, theo định nghĩa của Luật Cạnh Tranh Việt Nam 2004, thì hoạt động M&A được định nghĩa bao gồm: mua lại công ty, sáp nhập công ty hợp nhất công ty, liên doanh công ty và một số hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định pháp luật. Sáp nhập công ty là một hoạt động mà một hoặc một số công ty chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một công ty khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.
Hợp nhất công ty là một hoạt động mà hai hoặc nhiều công ty chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một công ty mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất. Mua lại công ty là một hoạt động mà một công ty mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của công ty khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của công ty bị mua lại. Theo Gaughan (2015), sáp nhập (Mergers) là hình thức các công ty thống nhất kết hợp, gộp chung cổ phần với nhau. Còn mua lại (Acquisitions) là một công ty tiến hành mua lại hoạt động kinh doanh và chiếm lĩnh hoàn toàn một công ty khác với tư cách là người chủ sở hữu mới.
Mua bán và sáp nhập (M&A) là một trong những hoạt động đặc trưng và ngày càng phổ biến, đặc biệt trong bối cảnh của khủng hoảng, cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế. Cũng theo Patrick A.GauGhan (2015), hoạt động sáp nhập và hợp nhất được mô phỏng như các mô hình sau: A + B = A, nơi mà công ty B sáp nhập vào công ty A. 6 Trong một thương vụ hợp nhất, A + B = C, trong đó C là một công ty hoàn toàn mới. Mặc dù có sự khác biệt giữa các thương vụ sáp nhập và hợp nhất nhưng vấn đề này thường ít được quan tâm.
Trong phạm vi nghiên cứu của bài luận này, tác giả xem xét cho cả các thương vụ sáp nhập và hợp nhất và để thuận tiện, tác giả gọi chung là sáp nhập (Mergers).2 Các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của Doanh Nghiệp Có nhiều tài liệu nghiên cứu chỉ ra nhiều nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, hay cụ thể là lợi nhuận (profitability), doanh thu, lợi nhuận trên vốn cổ phần, … thay đổi dưới sự tác động của các nhân tố này. Theo đó, có thể phân loại ra thành ba nhóm chính như sau: Nhóm nhân tố nội tại của doanh nghiệp, nhóm nhân tố bên ngoài đến từ thị trường các quy định của nhà nước.1 Nhóm nhân tố nội tại của doanh nghiệp Theo bài nghiên cứu của Salman and Yazdanfar (2012) đã liệt kê năm nhân tố tác động đến lợi nhuận bao gồm: tốc độ tăng trưởng hoạt động kinh doanh (growth of the quantity sale), quy mô công ty (Firm Size), tuổi công ty (Firm Age), nhân tố tổng hợp về sự tăng trưởng hoạt động sản xuất (Total Factor Productivity Growth), giá trị doanh thu trên tài sản (Asset Turnover). Ngoài ra còn có một số nhân tố khác như cơ cấu vốn, công nghệ máy móc thiết bị, năng lực quản trị,… Cụ thể là, bài nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu của 2.500 doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Thụy Điển trong năm 2007, đã cho thấy rằng các nhân tố tốc độ tăng trưởng hoạt động kinh doanh (growth of the quantity sale), giá trị doanh thu trên tài sản (Asset Turnover), nhân tố tổng hợp về sự tăng trưởng hoạt động sản xuất (Total Factor Productivity Growth) có tác động tích cực đến lợi nhuận hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, quy mô công ty (Firm Size), tuổi công ty (Firm Age), có tác động tiêu cực đến lợi nhuận của Công ty.2 Nhóm nhân tố bên ngoài đến từ thị trường Nhóm nhân tố bên ngoài đến từ thị trường bao gồm lạm phát và tỷ giá hối đoái tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, hoạt động ngoại thương, điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng, yếu tố khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp.
Lạm phát và tỷ giá hối đoái tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát ảnh hưởng đến thu nhập, tích luỹ , tiêu dùng, kích thích hoặc kìm hãm hoạt động đầu tư. Sự thay đổi về cơ cấu kinh tế ảnh hưởng dến vị trí vai trò và xu hướng phát triển của các ngành kinh tế kéo theo sự thay đổi chiều hướng phát triển của doanh nghiệp. Tốc độ tăng trưởng kinh tế thể hiện xu hướng phát triển chung của nền kinh tế liên quan đến khả năng mở rộng hay thu hẹp quy mô kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Hoạt động ngoại thương Xu hướng đóng mở của nền kinh tế cóảnh hưởng các cơ hội phát triển của doanh nghiệp ,các điều kiện canh tranh ,khả năng sử dụng ưu thê quốc gia về công nghệ, nguồn vốn.
Điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng Các yếu tố điều kiện tự nhieen như khí hậu ,thời tiết ảnh hưởng đến chu kỳ sản xuất kinh doanh trong khu vực , hoặc ảnh hưởng đến hoạt động dự trữ , bảo quản hàng hoá. Đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật ,các điều kiện phục vụ cho sản xuất kinh doanh một mặt tạo cơ sở cho kinh doanh thuận lợi khi khai thác cơ sở hạ tầng sẵn có của nền kinh tế, mặt khác nó cũng có thể gây hạn chếkhả năng đầu tư, phát triển kinh doanh đặc biệt với dsoanh nghiệp thương mại trong quá trình vận chuyển, bảo quản, phân phối… Yếu tố khách hàng Khách hàng là những người có nhu cầu và khả năng thanh toán về hàng hoá và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh. Khách hàng là nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Khách hàng có nhu cầu rất phong phú và khác nhau tuỳ theo từng lứa tuổi, giới tính mức thu nhập, tập quán … 8 Mỗi nhóm khách hàng có một đặc trưng riêng phản ánh quá trình mua sắm của họ.
Do đó doanh nghiệp phải có chính sách đáp ứng nhu cầu từng nhóm cho phù hợp. Đối thủ cạnh tranh Bao gồm các nhà sản xuất, kinh doanh cùng sản phẩm của doanh nghiệp hoặc kinh doanh sản phẩm có khả năng thay thế. Đối thủ canh tranh có ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp, doanh nghiệp có cạnh tranh được thì mới vó khả năng tồn tại ngược lại sẽ bị đẩy lùi ra khỏi thị trường , Cạnh tranh giúp doanh nghiệp có thể nâng cao hoạt động của mình phục vụ khách hàng tốt hơn ,nâng cao được tính năng động nhưng luôn trong tình trạng bị đẩy lùi. Nhà cung cấp.
Đó là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước mà cung cấp hàng hoá cho doanh nghiệp, người cung ứng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh cua doanh nghiệp không phải nhỏ ,điều đó thể hiện trong việc thực hiện hợp đồng cung ứng, độ tin cậy về chất lượng hàng hoá, giá cả, thời gian, điạ điểm theo yêu cầu … 2.3 Nhóm nhân tố đến từ chính trị và pháp luật. Chính trị. Chính trị là yếu tố đầu tiên mà các nhà đầu tư, nhà quản trị các doanh nghiệp quan tâm phân tích để dự báo mức độ an toàn trong các hoạt động tại các quốc gia, các khu vực nơi mà doanh nghiệp đang có mối quan hệ mua bán hay đầu tư. Các yếu tố như thể chế chính trị, sự ổn định hay biến động về chính trị tại quốc gia hay một khu vực là những tín hiệu ban đầu giúp các nhà quản trị nhận diện đâu là cơ hội hoặc đâu là nguy cơ của doanh nghiệp để đề ra các quyết định đầu tư, sản xuất kinh doanh trên các khu vực thị trường thuộc phạm vi quốc gia hay quốc tế.
Yếu tố chính trị là yếu tố rất phức tạp, tuỳ theo điều kiện cụ thể yếu tố này sẽ tác động đến sự phát triển kinh tế trong phạm vi quốc gia hay quốc tế. Các nhà quản trị chiến lược muốn phát triển thị trường cần phải nhạy cảm với tình hình chính trị ở mỗi khu vực địa lý, dự báo diễn biến chính trị trên phạm vi quốc gia, khu vực, thế giới để có các quyết định chiến lược thích hợp và kịp thời. 9 Luật pháp Việc tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh hay không lành mạnh hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố pháp luật và quản lý nhà nước về kinh tế. Việc ban hành hệ thống luật pháp có chất lượng là điều kiện đầu tiên đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng cho các doanh nghiệp buộc các doanh nghiệp phải kinh doanh chân chính, có trách nhiệm.
Tuy nhiên nếu hệ thống pháp luật không hoàn thiện cũng sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường kinh doanh gây khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Pháp luật đưa ra những quy định cho phép, không cho phép hoặc những đòi hỏi buộc các doanh nghiệp phải tuân thủ. Chỉ cần một sự thay đổi nhỏ trong hệ thống luật pháp như thuế, đầu tư. sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.