chương 1 như đã trình bày, luận văn gồm thêm 4 chương: Chương 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu: trình bày các nội dung sau: các lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu, các nghiên cứu đã được các tác giả trong và ngoài nước thực hiện về vấn đề nghiên cứu của đề tài, thông qua việc trình bày các nội dung trên xác định khoảng trống kiến thức cần nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. Nội dung của chương sẽ bao gồm các vấn đề: trên cơ sở các câu hỏi nghiên cứu, đưa ra lý luận cho việc lựa chọn các biến của mô hình, xây dựng mô hình nghiên cứu, hình thành các giả thuyết cần phải kiểm định, trình bày sơ lược về công cụ phục vụ nghiên cứu.
Nội dung về nguồn dữ liệu nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu cũng sẽ được trình bày trong chương này Chương 4. Phân tích kết quả nghiên cứu. Nội dung của chương sẽ lần lượt tiến hành các công việc: phân tích thống kê mô tả và phân tích biến động của các biến, tiến hành các kiểm định cần thiết trước khi cho hồi quy mô hình như: xác định phương pháp ước liệu dữ liệu bảng, kiểm tra sự phù hợp của mô hình nghiên cứu đã xây dựng ở chương 3. Trên cơ sở đó đề tài sẽ tiến hành phân tích các kết quả hồi quy mô hình và trình bày kết quả nghiên cứu đạt được gắn kết với các giả thuyết, xu hướng biến động và dự báo kết quả.
Kết luận và khuyến nghị: trên cơ sở phân tích kết quả chương 4, chương 5 sẽ xem xét nghiên cứu đã đạt được các mục tiêu đề ra hay chưa, các câu hỏi nghiên cứu đã được trả lời chưa, đưa ra các phát hiện chính của nghiên cứu, từ đó đưa ra các khuyến nghị liên quan đến vấn đề nghiên cứu, những hạn chế mà nghiên cứu không thể đạt được để hướng cho các nghiên cứu sau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Giới thiệu chương Mục tiêu của chương là tìm ra khoảng trống kiến thức nghiên cứu cần tiến hành nghiên cứu và cung cấp cơ sở đảm bảo tính khả thi của việc xây dựng phương pháp nghiên cứu. Để đạt mục tiêu trên, chương sẽ trình bày các nội dung sau: các lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu, các nghiên cứu đã được các tác giả trong và ngoài nước thực hiện về vấn đề nghiên cứu của đề tài, thông qua việc trình bày các nội dung trên xác định khoảng trống kiến thức cần nghiên cứu, từ đó nghiên cứu sẽ xác định câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu phù hợp.
Cơ sở lý thuyết của đề tài 2. Hàng tồn kho 2. Khái niệm Theo Phan Đức Dũng (2007), Bùi Hữu Phước và ctg (2009) thì hàng tồn kho là các loại vật tư, hàng hóa mà doanh nghiệp dự trữ để sản xuất hoặc để bán. Trần Ngọc Thơ và ctg (2013) cụ thể hóa các loại hàng tồn kho trong một doanh nghiệp sản xuất ứng với ba giai đoạn khác nhau của một quá trình sản xuất: - Tồn kho nguyên vật liệu bao gồm các chủng loại hàng mà một doanh nghiệp mua để sử dụng trong quá trình sản xuất của mình.
Nó có thể bao gồm các loại nguyên liệu thô, bán thành phẩm hoặc cả hai. Việc duy trì một lượng hàng tồn kho thích hợp sẽ mang lại cho doanh nghiệp sự thuận lợi trong hoạt động mua vật tư và hoạt động sản xuất. Ngoài ra khi doanh nghiệp dự đoán rằng trong tương lai giá cả nguyên vật liệu sẽ tăng hay một loại nguyên vật liệu nào đó khan hiếm, hoặc cả hai thì việc lưu giữ một số lượng hàng tồn kho lớn sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp luôn được cung ứng đầy đủ kịp thời với chi phí ổn định. - Tồn kho sản phẩm dở dang bao gồm tất cả các mặt hàng mà hiện đang còn nằm tại một công đoạn nào đó của quá trình sản xuất.
Tồn trữ sản phẩm dở LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 dang là một phần tất yếu của hệ thống sản xuất công nghiệp hiện đại bởi vì nó sẽ mang lại cho mỗi công đoạn trong quá trình sản xuất một mức độ độc lập nào đó. Thêm vào đó sản phẩm dở dang sẽ giúp lập kế hoạch sản xuất hiệu quả cho từng công đoạn và tối thiểu hóa chi phí phát sinh do ngừng trệ sản xuất hay có thời gian nhàn rỗi. - Tồn kho thành phẩm bao gồm những sản phẩm đã hoàn thành chu kỳ sản xuất và đang chờ tiêu thụ. Ngoại trừ các loại thiết bị có quy mô lớn, các thiết bị đặc biệt như các máy móc công nghiệp, máy bay,…thường được hợp đồng đặt hàng trước khi sản xuất, còn lại các sản phẩm tiêu dùng và các sản phẩm công nghiệp đều được sản xuất hàng loạt và tồn trữ trong kho nhằm đáp ứng mức tiêu thụ dự kiến trong tương lai.
Dưới góc độ một nhà sản xuất thì việc duy trì một lượng lớn thành phẩm tồn kho cho phép các loại sản phẩm được sản xuất với số lượng lớn và điều này giúp giảm chi phí sản xuất trên mỗi đơn vị sản phẩm do chi phí cố định được phân bổ trên số lượng lớn đơn vị sản phẩm được sản xuất ra. Vai trò của hàng tồn kho Hàng tồn kho trong doanh nghiệp có vai trò quan trọng - Giúp công ty chủ động trong dự trữ và sản xuất, đảm bảo cho quá trình sản xuất được điều hòa và liên tục. Đối với các doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn kho có vai trò như một tấm đệm an toàn giữa các gia đoạn khác nhau trong chu kỳ sản xuất kinh doanh như dự trữ - sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, khi mà giữa các giai đoạn này các hoạt động không phải lúc nào cũng diễn ra đồng bộ. - Hàng tồn kho giúp cho bộ phận sản xuất và bộ phận marketing có được tính linh hoạt trong hoạt động sản xuất kinh doanh như lựa chọn thời điểm mua nguyên vật liệu, lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ.
Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại như các doanh nghiệp bán sỉ hay bán lẻ thì hàng tồn kho cũng có vai trò như một tấm đệm an toàn giữa giai đoạn mua hàng và và bán hàng trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Với những vai trò quan trong như trên thì việc duy trì tồn kho là thiết yếu. Tuy nhiên, duy trì tồn kho cũng có mặt trái của nó là làm phát sinh chi phí liên quan đến tồn kho bao gồm chi phí kho bãi, bảo quản và cả chi phí cơ hội do kẹt vốn đầu tư vào tồn kho. Như vậy, đối với hàng tồn kho nếu dự trữ quá lớn sẽ tốn kém chi phí dự trữ, ứ đọng vốn và ngược lại nếu dự trữ quá ít sẽ không đủ phục vụ sản xuất kinh doanh, làm gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Các nhân tố ảnh hưởng đến mức dự trữ hàng tồn kho Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến mức dự trữ hàng tồn kho của doanh nghiệp, đó là: - Loại hình doanh nghiệp: đối với doanh nghiệp thuộc ngành thương mại dịch vụ với quá trình sản xuất kinh doanh chủ yếu là dự trữ hàng hóa để bán thì hàng tồn kho về nguyên liệu chiếm tỷ trọng nhỏ trong khi tồn kho về hàng hóa thì lại chiếm tỷ trọng rất cao. Còn đối với doanh nghiệp sản xuất do đặc điểm quy trình công trình công nghệ sản xuất sản phẩm nên hàng tồn kho về nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm lại chiếm tỷ trọng lớn trong khi tồn kho về hàng hóa nếu có chỉ chiếm một tỷ trọng rất thấp. - Đặc điểm của từng loại hàng tồn kho: đối với những sản phẩm mau hư hỏng thì thời gian lưu trữ, bảo quản sẽ ngắn. Đối với sản phẩm có tuổi thọ lâu dài thì có thể tốn chi phí lưu kho nhiều.
- Tính chất của quy trình sản xuất: tồn kho nguyên vật liệu và sản phẩm dở dang thường sẽ gia tăng khi mức độ hoạt động sản xuất gia tăng, ngoài ra chu kỳ sản xuất càng dài thì lượng sản phẩm dở dang tồn kho sẽ càng lớn, bên cạnh đó lượng nguyên vật liệu tồn kho cũng có thể gia tăng nếu mỗi công đoạn sản xuất của quy trình công nghệ đều cần đến nguyên vật liệu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 - Mối liên hệ giữa chi phí đặt hàng và chi phí lưu kho. Mức dự trữ hàng tồn kho của một doanh nghiệp cũng bị tác động bởi mối liên hệ giữa chi phí đặt hàng và chi phí lưu giữ hàng. Chi phí đặt hàng bao gồm những chi phí liên quan đến việc lập và gửi đơn hàng, theo dõi việc đặt hàng cho đến khi nhận được hàng và kiểm tra hàng khi nhận.
Một trong số các chi phí này có thể thay đổi tùy theo quy mô đặt hàng, nhưng phần lớn là cố định cho mỗi lần đặt hàng. Chi phí lưu giữ hàng tồn kho gồm chi phí tồn trữ, bảo hiểm và chi phí của số vốn nằm trong hàng tồn kho. Do hầu hết các chi phí đặt hàng thường không thay đổi cho mỗi lần đặt hàng nên tổng chi phí đặt hàng sẽ thay đổi theo số lần đặt hàng.Ngược lại với số lần đặt hàng là số lượng hàng tồn kho tức là nếu số lượng hàng tồn kho cho mỗi lần đặt hàng tăng thì số lần đặt hàng trong kỳ sẽ giảm (và ngược lại), do đó tổng chi phí lưu trữ hàng sẽ thay đổi tỷ lệ nghịch với số lần đặt hàng trong khi tổng chi phí đặt hàng thì thay đổi tỷ lệ thuận với số lần đặt hàng. - Các rủi ro trong quan hệ cung cầu: do doanh nghiệp không thể dự đoán chắc chắn và chính xác thời gian đặt hàng cũng như nhu cầu hàng hóa mà doanh nghiệp cần sử dụng trong kỳ nên để hạn chế được rủi ro trong quan hệ cung cầu của mình, doanh nghiệp nên duy trì một lượng hàng hóa tồn kho an toàn cho mình.
Số lượng sản phẩm tồn kho an toàn phụ thuộc vào: • Mức độ tin cậy trong việc dự báo cho cả nhu cầu về hàng hóa đặt mua lẫn hàng được giao. • Chi phí thiệt hại của việc không nhận đủ khối lượng hàng đặt mua. • Chi phí để duy trì lượng hàng tồn kho an toàn. - Các cơ hội bất thường.