Tổng quan nghiên cứu

Giáo dục mầm non đóng vai trò nền tảng trong tiến trình hình thành vốn nhân lực và phát triển trí tuệ của trẻ trong những năm đầu đời. Tại Việt Nam, theo số liệu từ Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng UNESCO, quy mô giáo dục mầm non đã ghi nhận bước tăng trưởng vượt bậc: số lượng trẻ theo học tăng từ 2.124.142 trẻ trong năm học 1999-2000 lên 3.551.082 trẻ vào năm học 2012-2013, kéo theo tỷ lệ nhập học thô tăng nhanh từ 40,13% lên 77,18%. Tuy nhiên, hệ thống giáo dục mầm non vẫn đối mặt với thách thức nghiêm trọng về cơ sở vật chất khi năm học 2011-2012 toàn quốc thiếu hụt hơn 26.886 phòng học, chỉ có 48% số phòng học đạt chuẩn kỹ thuật và khoảng 25% phòng học được trang bị thiết bị dạy học đạt yêu cầu. Tỷ lệ tiếp cận giáo dục mầm non của trẻ em khu vực nông thôn vào năm 2004 chỉ đạt khoảng 35%, tạo nên khoảng cách lớn về cơ hội phát triển ban đầu giữa các nhóm dân cư.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là đánh giá tác động thực chứng của việc tham gia giáo dục mầm non đối với sự phát triển nhận thức của trẻ em 5 tuổi tại Việt Nam, đồng thời xem xét tác động của các yếu tố kinh tế xã hội, vị thế dân tộc và dinh dưỡng ban đầu. Mục tiêu cụ thể bao gồm lượng hóa mức độ cải thiện kỹ năng nhận thức ngôn ngữ và tư duy số lượng, so sánh sự khác biệt giữa mô hình hồi quy truyền thống và mô hình kiểm soát nội sinh, từ đó đề xuất hàm ý chính sách cho giai đoạn tiếp theo. Luận văn khai thác bộ dữ liệu dọc Young Lives gồm 2.000 trẻ em thuộc nhóm tuổi sinh năm 2000-2001, khảo sát qua hai vòng thu thập dữ liệu vào năm 2002 (khi trẻ từ 6 đến 18 tháng tuổi) và giai đoạn 2006-2007 (khi trẻ đạt 4 đến 6 tuổi) tại 20 địa bàn thuộc 5 tỉnh đại diện: Lào Cai, Hưng Yên, Phú Yên, Đà Nẵng và Bến Tre. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp bằng chứng định lượng hỗ trợ các chương trình mục tiêu quốc gia, đặc biệt là việc thực thi Quyết định số 239/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết hình thành kỹ năng theo vòng đời của James Heckman và các cộng sự (Carneiro & Heckman, 2003; Cunha et al., 2006). Lý thuyết này chỉ ra rằng quá trình tích lũy kỹ năng là tiến trình tích lũy liên tục theo nguyên lý kỹ năng sinh ra kỹ năng (skill begets skill), trong đó các khoản đầu tư giáo dục ở giai đoạn sớm tạo ra tỷ suất sinh lợi biên cao nhất trong toàn bộ chu kỳ sống của con người. Điển hình, phân tích chi phí - lợi ích từ Chương trình Mầm non Perry tại Hoa Kỳ ghi nhận tỷ lệ hoàn vốn xã hội đạt mức ấn tượng 16,14 USD trên mỗi 1 USD chi phí đầu tư ban đầu.

Bên cạnh đó, luận văn tích hợp lý thuyết pha loãng nguồn lực (Resource Dilution Theory) của Blake (1981) để giải thích cơ chế phân bổ nguồn lực gia đình. Lý thuyết này giả định rằng nguồn lực tài chính, thời gian chăm sóc và mức độ tương tác của cha mẹ là hữu hạn; do đó, quy mô gia đình càng lớn với số lượng anh chị em gia tăng sẽ làm suy giảm tỷ lệ đầu tư giáo dục cho từng đứa trẻ.

Khung phân tích của luận văn vận hành dựa trên các khái niệm cốt lõi:

  • Khả năng nhận thức ngôn ngữ tiếp nhận: Được đo lường thông qua bài trắc nghiệm từ vựng qua tranh Peabody (Peabody Picture Vocabulary Test - PPVT) bao gồm 204 câu hỏi chia thành 17 nhóm độ khó tăng dần.
  • Năng lực tư duy định lượng sớm: Được đo lường bằng bài đánh giá phát triển nhận thức (Cognitive Development Assessment - CDA) phần số lượng gồm 15 hạng mục trắc nghiệm hình ảnh chuẩn hóa.
  • Chỉ số tài sản hộ gia đình (Wealth Index): Biến số liên tục từ 0 đến 1 tổng hợp từ ba chỉ số thành phần gồm chất lượng nhà ở, quyền sở hữu 9 loại tài sản tiêu dùng bền và khả năng tiếp cận 4 dịch vụ hạ tầng thiết yếu (nước sạch, điện lưới, nhà vệ sinh, nhiên liệu nấu nướng).
  • Tình trạng dinh dưỡng ban đầu: Phản ánh qua chỉ số chiều cao theo tuổi (Height-for-age z-score - HAZ) lúc 1 tuổi dựa trên chuẩn nhân trắc học của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu khảo sát bảng dọc Young Lives tại Việt Nam. Quy mô mẫu ban đầu gồm 1.970 trẻ em thuộc nhóm thuần tập trẻ (Younger Cohort). Sau khi xử lý các giá trị khuyết và làm sạch dữ liệu, mẫu phân tích thực tế đạt 1.839 quan sát đối với mô hình CDA và 1.693 quan sát đối với mô hình PPVT. Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu cụm theo cụm điểm giám sát (sentinel site sampling), chọn ngẫu nhiên tương đương 100 trẻ em cho mỗi cộng đồng tại 20 xã/phường thuộc 5 tỉnh thành đại diện cho các vùng sinh thái đặc thù của Việt Nam. Dữ liệu Vòng 1 được thu thập vào năm 2002 khi trẻ đạt 6-18 tháng tuổi và Vòng 2 hoàn thành vào giai đoạn 2006-2007 khi trẻ đạt 4-6 tuổi.

Về mặt kinh tế lượng, luận văn thiết lập hàm sản xuất nhận thức và biến đổi dạng hàm tuyến tính sang dạng logarit tự nhiên của điểm số kiểm tra nhằm khắc phục hiện tượng phân phối lệch, giảm thiểu độ nhọn dư thừa và chuẩn hóa phần dư. Nhằm xử lý hiện tượng nội sinh bắt nguồn từ biến bị bỏ sót (như năng lực bẩm sinh của trẻ hoặc mức độ quan tâm của phụ huynh chưa quan sát được), tác giả đã kết hợp phương pháp Hồi quy Bình phương Bé nhất (OLS) với phương pháp Biến công cụ hai giai đoạn (IV/2SLS) dành cho biến nội sinh nhị phân thông qua lệnh hồi quy Treatreg trong phần mềm Stata.

Hai biến công cụ ngoại sinh được lựa chọn là số lượng anh chị em trong gia đình (Siblings) và tổng số các cú sốc kinh tế - môi trường (Total bad events gồm 8 nhóm rủi ro: thiên tai, thiếu hụt lương thực, dịch bệnh vật nuôi, mất mùa, mất việc làm/thu nhập, ốm đau nặng/thương tật, nạn nhân của tội phạm, ly hôn). Các biến này tác động trực tiếp đến xác suất đưa trẻ đến trường mầm non nhưng không can thiệp trực tiếp vào năng lực nhận thức của trẻ. Kiểm định giới hạn nhận dạng quá mức (Hansen J / Over-identification test) cho thấy giá trị p-value đạt 0,535 ở mô hình CDA và 0,1078 ở mô hình PPVT, khẳng định giả thuyết H0 không bị bác bỏ và tập biến công cụ hoàn toàn hợp lệ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng từ luận văn mang lại bốn phát hiện then chốt về tác động của giáo dục mầm non và các yếu tố kinh tế xã hội đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ 5 tuổi tại Việt Nam:

Thứ nhất, việc đi học mầm non tạo ra tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% đối với cả hai thước đo nhận thức. Kết quả ước lượng OLS cho thấy trẻ từng theo học mầm non đạt điểm kiểm tra tư duy định lượng CDA cao hơn 13,7 điểm phần trăm và điểm từ vựng PPVT cao hơn 24,0 điểm phần trăm so với nhóm trẻ không theo học mầm non, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Đáng chú ý, khi chuyển sang mô hình biến công cụ IV để hiệu chỉnh nội sinh, hệ số tác động tăng vọt lên 21,0 điểm phần trăm đối với điểm CDA và 41,7 điểm phần trăm đối với điểm PPVT (tăng tới 73,75% so với OLS). Điều này chứng minh mô hình OLS truyền thống đã bị chệch hướng xuống (downward bias), đánh giá thấp đáng kể lợi ích thực tế của việc đi học mầm non.

Thứ hai, khoảng cách nhận thức biểu hiện sâu sắc theo thành phần dân tộc và khu vực địa lý. Thống kê mô tả chỉ ra điểm PPVT trung bình của trẻ em người Kinh hoặc Hoa đạt mức 39,502 điểm, trong khi trẻ em các dân tộc thiểu số chỉ đạt 23,808 điểm; điểm CDA của nhóm đa số đạt 10,223 điểm so với 7,638 điểm ở nhóm thiểu số. Trong phương trình hồi quy PPVT, tình trạng là người dân tộc thiểu số làm sụt giảm 31,2 điểm phần trăm kết quả bài thi. Trẻ em cư trú tại thành thị đạt điểm PPVT trung bình 52,215 điểm, vượt trội so với mức 33,808 điểm của trẻ em nông thôn. Các khu vực nông thôn như Đồng bằng sông Cửu Long và Duyên hải Nam Trung Bộ ghi nhận mức điểm thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với các khu vực còn lại.

Thứ ba, điều kiện kinh tế gia đình và trình độ học vấn của cha mẹ đóng vai trò bệ phóng quyết định. Chỉ số tài sản hộ gia đình (Wealth Index) có tác động mạnh mẽ nhất: tăng 1 đơn vị chỉ số tài sản giúp cải thiện điểm PPVT thêm 26,9 điểm phần trăm trong mô hình OLS và 23,3 điểm phần trăm trong mô hình IV; điểm CDA tăng tương ứng 13,5 điểm phần trăm. Mỗi năm đi học tăng thêm của người cha giúp gia tăng điểm số nhận thức của trẻ khoảng 1,5 điểm phần trăm và nâng xác suất trẻ được đến trường mầm non thêm 3,4 điểm phần trăm ở giai đoạn hồi quy thứ nhất.

Thứ tư, tình trạng dinh dưỡng trong giai đoạn sơ sinh để lại dấu ấn đo lường được lên nhận thức ngôn ngữ. Với chỉ số HAZ trung bình ở Vòng 1 là -1,15 (trẻ em trong mẫu ở ngưỡng tiền thấp còi theo chuẩn WHO), việc nâng cao chỉ số HAZ thêm 1 độ lệch chuẩn khi trẻ 1 tuổi sẽ giúp điểm số từ vựng PPVT lúc 5 tuổi tăng thêm 2,2 điểm phần trăm (p < 0,05). Ngược lại, biến số giới tính nam và chỉ báo bệnh tật dài hạn không thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với kết quả kiểm tra nhận thức.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét bức tranh tổng thể, dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa rõ nét thông qua biểu đồ ước lượng mật độ Kernel (Kernel Density Estimates) và bảng so sánh giá trị trung bình t-test. Đường cong phân bố điểm số của nhóm trẻ đi học mầm non dịch chuyển hẳn sang phía bên phải so với nhóm không theo học, minh chứng cho sự vượt trội đồng đều trên toàn bộ phân vị điểm số. Các kiểm định t-test đều bác bỏ giả thuyết bằng nhau về giá trị trung bình với giá trị p-value xấp xỉ 0 (t = -12,00 đối với CDA), khẳng định lợi thế nhận thức không phải do ngẫu nhiên mẫu.

Sự gia tăng đột biến của hệ số tác động khi áp dụng mô hình IV (từ 0,137 lên 0,210 với CDA và từ 0,240 lên 0,417 với PPVT) phản ánh quy luật kinh tế học quan trọng: các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đông con hoặc phải đối mặt với nhiều cú sốc rủi ro thường có xu hướng không cho con đi học mầm non. Tuy nhiên, chính những trẻ em thiệt thòi này lại là đối tượng nhận được lợi ích cận biên lớn nhất khi được tiếp cận với môi trường giáo dục sớm. Phát hiện này hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế của Magnuson và cộng sự (2007) tại Hoa Kỳ, Berlinski và cộng sự (2009) tại Argentina, cũng như Woldehanna và Gebremedhin (2012) tại Ethiopia.

Khoảng cách nhận thức bất lợi của trẻ em dân tộc thiểu số tại Việt Nam phản ánh rào cản kép: sự hạn chế về ngôn ngữ tiếng Việt khi tiếp cận các bài kiểm tra chuẩn hóa và điều kiện vật chất trường lớp tại vùng cao còn thiếu thốn. Trong khi đó, việc chỉ số dinh dưỡng HAZ có tác động rõ nét đến điểm từ vựng PPVT nhưng ít ảnh hưởng đến tư duy định lượng CDA gợi ý rằng sự phát triển vùng não bộ ngôn ngữ nhạy cảm hơn đối với tình trạng thiếu hụt vi chất và suy dinh dưỡng thể thấp còi trong 1.000 ngày đầu đời.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm thu được từ mô hình kinh tế lượng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa sự phát triển nhận thức của trẻ em trước ngưỡng cửa giáo dục phổ thông:

Thứ nhất, mở rộng mạng lưới trường lớp mầm non công lập gắn với chuẩn hóa cơ sở vật chất tại các vùng trũng giáo dục. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long triển khai kế hoạch đầu tư xây dựng mới tối thiểu 15.000 phòng học đạt chuẩn trong giai đoạn 2016-2020. Mục tiêu trọng tâm là nâng tỷ lệ phòng học kiên cố đạt chuẩn từ mức 48% lên tối thiểu 85%, xóa bỏ tình trạng lớp ghép và thiếu trang thiết bị đồ chơi trí tuệ, đảm bảo 100% trẻ em 5 tuổi tại các địa bàn vùng sâu vùng xa có thể tiếp cận trường mầm non với bán kính di chuyển dưới 2 km.

Thứ hai, thiết lập chính sách trợ cấp tài chính và hỗ trợ dinh dưỡng học đường toàn diện cho nhóm yếu thế. Bộ Tài chính cùng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành cơ chế miễn giảm 100% học phí và hỗ trợ tiền ăn trưa cố định cho trẻ em thuộc hộ nghèo, cận nghèo và con em đồng bào dân tộc thiểu số khi theo học mầm non. Chính sách hướng đến mục tiêu nâng tỷ lệ nhập học mầm non của trẻ em dân tộc thiểu số từ mức 60% lên trên 85% trước năm 2020, thực thi hóa các mục tiêu an sinh xã hội theo tinh thần Quyết định số 239/QĐ-TTg của Chính phủ.

Thứ ba, chuẩn hóa chương trình tăng cường tiếng Việt và đào tạo đội ngũ giáo viên song ngữ mầm non. Vụ Giáo dục Mầm non thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo cần xây dựng khung học liệu trực quan, chú trọng phát triển vốn từ vựng tiếp nhận qua tranh ảnh tương tự cấu trúc PPVT, đồng thời tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng sư phạm song ngữ cho 100% giáo viên mầm non công tác tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn 2016-2018. Chỉ số mục tiêu cần đạt là thu hẹp khoảng cách điểm số từ vựng giữa trẻ em dân tộc thiểu số và trẻ em người Kinh tối thiểu 40% sau 3 năm can thiệp.

Thứ tư, tích hợp chương trình can thiệp dinh dưỡng 1.000 ngày đầu đời vào hệ thống y tế - giáo dục cơ sở. Bộ Y tế chủ trì phối hợp với các cơ sở mầm non định kỳ theo dõi chỉ số nhân trắc học HAZ, cung cấp vi chất dinh dưỡng và bữa ăn giàu năng lượng cho trẻ em từ 6 đến 24 tháng tuổi tại các trạm y tế xã. Mục tiêu hướng tới là giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi từ 12% xuống dưới mức 8% trên toàn quốc vào năm 2020, tạo nền tảng thể chất vững chắc cho sự phát triển chức năng nhận thức bậc cao của trẻ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Các nhà hoạch định chính sách giáo dục và an sinh xã hội: Cung cấp cơ sở khoa học và bằng chứng định lượng vững chắc để xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách nhà nước cho bậc học mầm non, đánh giá hiệu quả kinh tế của các đề án phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi và thiết kế các gói trợ cấp mục tiêu hướng tới trẻ em nghèo.
  2. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học khối ngành Kinh tế học Phát triển, Kinh tế lượng và Xã hội học: Là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình xử lý dữ liệu vi mô theo chiều dọc (Longitudinal Data), kỹ thuật khắc phục biến nội sinh nhị phân bằng mô hình hồi quy biến công cụ 2SLS thông qua lệnh Treatreg trong Stata, cũng như phương pháp xử lý dữ liệu phân phối lệch.
  3. Cán bộ quản lý và giáo viên tại các cơ sở giáo dục mầm non: Giúp hiểu rõ cơ chế hình thành kỹ năng nhận thức định lượng và ngôn ngữ của trẻ 5 tuổi, từ đó tối ưu hóa các hoạt động giáo dục sớm, phương pháp tương tác hình ảnh và chuẩn bị tâm thế chuyển tiếp vững vàng cho trẻ bước vào lớp 1 tiểu học.
  4. Các tổ chức phi chính phủ và đối tác phát triển quốc tế (UNICEF, UNESCO, Ngân hàng Thế giới, Save the Children): Cung cấp bức tranh thực trạng về sự bất bình đẳng giáo dục và dinh dưỡng theo vùng miền tại Việt Nam, phục vụ việc thiết kế các dự án tài trợ phát triển cộng đồng, can thiệp dinh dưỡng học đường và thúc đẩy công bằng xã hội.

Câu hỏi thường gặp

  1. Việc tham gia giáo dục mầm non giúp cải thiện năng lực định lượng của trẻ 5 tuổi ở mức độ nào? Kết quả ước lượng OLS cho thấy việc đi học mầm non giúp tăng điểm số tư duy định lượng CDA thêm 13,7 điểm phần trăm. Khi xử lý hiện tượng nội sinh bằng mô hình biến công cụ IV, tác động thực tế tăng lên mức 21,0 điểm phần trăm, khẳng định vai trò then chốt của mầm non đối với tư duy toán học sớm.

  2. Tại sao nghiên cứu phải sử dụng phương pháp biến công cụ (IV) thay vì chỉ sử dụng hồi quy OLS? Hồi quy OLS có nguy cơ bị chệch do bỏ sót các yếu tố không quan sát được như sự quan tâm của gia đình hay rủi ro ngoại cảnh. Mô hình IV sử dụng số anh chị em và các cú sốc kinh tế làm biến công cụ giúp bóc tách tác động thuần túy, nâng hệ số tác động lên PPVT từ 24,0% lên 41,7%.

  3. Trẻ em dân tộc thiểu số tại Việt Nam gặp phải những bất lợi nhận thức cụ thể nào trước tuổi đến trường? Trẻ em dân tộc thiểu số đạt điểm từ vựng PPVT trung bình chỉ 23,808 điểm so với 39,502 điểm ở trẻ người Kinh/Hoa (thấp hơn 31,2 điểm phần trăm khi kiểm soát các biến khác). Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ rào cản ngôn ngữ tiếng Việt, khoảng cách địa lý và điều kiện kinh tế gia đình khó khăn.

  4. Chỉ số tài sản của hộ gia đình tác động như thế nào đến sự phát triển vốn từ vựng của trẻ? Chỉ số tài sản hộ gia đình (Wealth Index) là biến số tác động mạnh nhất trong mô hình. Khi chỉ số tài sản tăng thêm 1 đơn vị, điểm số từ vựng PPVT của trẻ tăng thêm 26,9 điểm phần trăm trong mô hình OLS và 23,3 điểm phần trăm trong mô hình IV, vượt qua cả tác động của biến đi học mầm non đơn lẻ.

  5. Tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi lúc 1 tuổi có ảnh hưởng lâu dài đến trí tuệ của trẻ không? Chỉ số chiều cao theo tuổi HAZ lúc 1 tuổi có mối liên hệ dương và có ý nghĩa thống kê với nhận thức ngôn ngữ lúc 5 tuổi. Việc cải thiện chỉ số HAZ thêm 1 độ lệch chuẩn giúp tăng 2,2 điểm phần trăm điểm từ vựng PPVT, minh chứng tầm quan trọng của dinh dưỡng 1.000 ngày đầu đời đối với não bộ.

Kết luận

Luận văn đã cung cấp những bằng chứng kinh tế lượng xác thực và toàn diện về vai trò quyết định của giáo dục mầm non đối với sự phát triển nhận thức của trẻ em 5 tuổi tại Việt Nam:

  • Đi học mầm non giúp nâng cao vượt bậc năng lực tư duy định lượng CDA (tăng 21,0 điểm phần trăm trong mô hình IV) và vốn từ vựng tiếp nhận PPVT (tăng 41,7 điểm phần trăm trong mô hình IV).
  • Mô hình biến công cụ IV chứng minh phương pháp OLS truyền thống đã đánh giá thấp hơn 73% hiệu quả thực tế của giáo dục mầm non do hiện tượng nội sinh.
  • Tồn tại khoảng cách nhận thức đáng kể giữa trẻ em thành thị với nông thôn, và giữa trẻ em người Kinh/Hoa với các nhóm dân tộc thiểu số (chênh lệch điểm từ vựng lên tới 31,2 điểm phần trăm).
  • Nền tảng kinh tế gia đình, trình độ học vấn của người cha và chỉ số dinh dưỡng HAZ sơ sinh là các yếu tố tương hỗ mang tính quyết định đến quỹ đạo phát triển trí tuệ ban đầu.
  • Đầu tư cho giáo dục mầm non công lập và can thiệp dinh dưỡng sớm tại các vùng khó khăn chính là phương thức tích lũy vốn nhân lực mang lại tỷ suất hoàn vốn xã hội cao nhất.

Đóng góp khoa học cốt lõi của luận văn là việc tiên phong ứng dụng kỹ thuật kinh tế lượng chuyên sâu trên dữ liệu dọc Young Lives tại Việt Nam, mở ra hướng nghiên cứu tiếp nối về tác động dài hạn của giáo dục mầm non lên kết quả học tập ở bậc trung học và thu nhập khi trưởng thành. Các cơ quan quản lý nhà nước cần khẩn trương ưu tiên nguồn vốn ngân sách, hoàn thiện thể chế an sinh và triển khai đồng bộ các gói hỗ trợ giáo dục mầm non để đảm bảo mọi trẻ em Việt Nam đều có điểm khởi đầu bình đẳng và vững chắc trong tương lai.