Chương I: Giới thiệu; Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các bài nghiên cứu trước đây; Chương 3: Phương pháp nghiên cứu; Chương 4: Kết quả nghiên cứu; Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. CHUONG 2: TONG QUAN LY THUYET VA CAC BAI NGHIEN CUU TRUOC DAY 2. Dòng vén FDI 2. Khai niém Dau tu truc tiép nước ngoài (FDI) là một hoạt động kinh doanh quốc tế dựa trên cơ sở của quá trình dịch chuyển tư bản giữa các quốc gia, chủ yếu do các pháp nhân hoặc thể nhân thực hiện theo những hình thức nhất định trong đó chủ đầu tư tham gia trực tiếp vào quá trình điều hành, quản lý và sử dụng vốn đầu tư (Nguồn: voer.
Tuy nhiên, còn rất nhiều cách tiếp cận về khái niệm khác nhau về dòng vốn FDI. Theo IMF (1997) “FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”. Theo WTO “FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một quốc gia có được một tài sản ở một quốc gia khác cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương điện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các 1199 tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"”. Theo Tổ chức OECD (1996) “FDI phản ánh mục tiêu của một thực thé cu trú tại một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) muốn có được một mối quan tâm (lợi ích) lâu đài trong một thực thể cư trú tại một nền kinh tế khác nền kinh tế của nhà đầu tư (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp). Mỗi quan tâm (lợi ích) lâu dài ngụ ý rằng: ton tai một mối quan hệ dài hạn giữa nhà đầu tư trực tiếp với doanh nghiệp và một mức độ ảnh hưởng đáng kể trong việc quản lý doanh nghiệp đó.
Đầu tư trực tiếp liên quan đến cả giao địch ban đầu giữa hai thực thể và mọi giao dịch vốn tiếp theo giữa chúng và giữa các công ty con, dù có tư cách pháp nhân hay không có tư cách pháp nhân”. Tại Việt Nam, Luật đầu tư nước ngoài (1987) có định nghĩa “Đầu tư nước ngoài là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của Luật này”. Sau đó, Luật đầu tư nước ngoài năm 1996 và Luật sửa đôi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài năm 2000 quy định “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiễn hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”. Từ các khái niệm nêu trên, chung quy lại “FDI là việc nhà đầu tư ở một nước khác sử dụng tiền hoặc bất cứ tài sản có gia tri nao đầu tư vào một quốc gia khác để được quyền quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý nhằm mục đích thu lợi nhuận”.
Vai trò của dòng vốn FDI Thứ nhất, FDI bô sung nguồn vốn cho hoạt động đầu tư trong nước. Trong các lí luận về tăng trưởng kinh tế, ngoài lao động và đất đai, nhân tố về vốn là một nhân tố quan trọng và luôn được các nhà khoa học đề cập đến. Khi đó, nền kinh tế của một quốc gia muốn tăng trưởng một cách mạnh mẽ thì đòi hỏi phải có khá nhiều vốn để đầu tư. Nếu vốn trong nước không đủ khả năng dé đáp ứng, nền kinh tế nước đó sẽ có nhu cầu thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài, vì vậy bổ sung dòng vốn FDI là điều rất cần thiết cho các nền kinh tế.
Thứ hai, FDI đây nhanh về chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ các quốc gia phát triển. Trong các trường hợp, nguồn vốn cho đầu tư phát triển để thúc đây tăng trưởng dù không đáp ứng vẫn có thê cố gắng huy động được. Tuy nhiên, các yếu tố như về khoa học - công nghệ cũng như kinh nghiệm quản lý thì không thu hút được. Thu hút FDI sẽ giúp đất nước có cơ hội tiếp thu và nhận chuyển giao khoa học - công nghệ cũng như kinh nghiệm quản lý kinh doanh đã được các nước tích lũy và phát triển trong nhiều năm.
Tuy nhiên, việc tiếp nhận và chuyển giao công nghệ cũng như kinh nghiệm quản lý đó như thế nào thì còn phụ thuộc khá nhiều vào nội lực cũng như khả năng tiếp nhận của nước đó. Thứ ba, FDI tạo nguồn thu ngân sách lớn. Đối với nhiều quốc gia đang phát triển, hoặc các địa phương, nguồn thu từ thuế do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là nguồn thu ngân sách quan trọng và có vị trí hàng đầu trong các loại hình đầu tư. Thứ tư, FDI góp phần tạo mới việc làm và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một trong những mục đích của các doanh nghiệp FDI là khai thác các điều kiện thuận lợi của các quốc gia mà họ đầu tư dé dat được chỉ phí sản xuất thấp nhất, nên doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đa phần sẽ ưu tiên sử dụng lực lượng lao động của địa phương đó. Từ đó, thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế địa phương. Trong quá trình sử dụng lao động, đào tạo tay nghề, cũng như đào tạo về kỹ năng sử dụng các công nghệ tiên tiến, tiến bộ ở các nước đang phát triển sẽ được các doanh nghiệp FDI cung cấp. Điều này sẽ tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng chuyên nghiệp.
Không chỉ có lao động phổ thông, mà cả các chuyên gia của địa phương được đảo tạo bài bản và cơ hội làm việc từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Thứ năm, FDI thúc đây kinh tế trong nước tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu (liên kết chuỗi giá trị). Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, mà ngay cả các doanh nghiệp nội địa có quan hệ làm ăn với doanh nghiệp FDI cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu, sẽ có cơ hội tham gia chuỗi liên kết giá trị của các doanh nghiệp FDI có quy mô lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đây mạnh các hoạt động xuất khâu, cải thiện cán cân thương mai quoc gia.
Tu do thuong mai 2. Khái niệm Thương mại là một hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, tiền tệ,. giữa hai hay nhiều đối tác với nhau, và nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác. Trong quá trình này, người bán là người cung cấp các sản phẩm cho người mua, đổi lại người mua sẽ trả lại cho người bán một giá trị tương đương nào đó.
Thương mại tồn tại vì nhiều lý do. Nguyên nhân cơ bản của nó là sự chuyên môn hóa và phân chia lao động, trong đó con người chỉ tập trung vào việc sản xuất hàng hóa hay dịch vụ thuộc lĩnh vực nào đó để đổi lại hàng hóa hay dịch vụ do người khác cung ứng. Theo cách hiểu trên thì thương mại quốc tế là những hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ ra ngoài lãnh thổ của các quốc gia. Như vậy thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa quốc gia này với quốc gia khác thông qua các hoạt động xuất, nhập khẩu.
Nên có vai trò hết sức quan trọng, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, là nhân tố quan trọng để thúc đây sản xuất, tạo tiền đề cho nền kinh tế phát triển. Tự do thương mại được hiểu là tự do trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia mà không có sự kiểm soát bằng những chính sách, rào cản nhập khẩu. Hiện nay, tự do thương mại được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm đáng kể, thông qua các hiệp định, hiệp ước, các ký kết song phương, đa phương, tạo điều kiện cho việc trao đôi hàng hóa dễ dàng hơn, giảm thiêu về thủ tục hành chính và các hàng rào thuế quan khác. Vai trò của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTA) trong thương mại quốc tế Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của ngành sản xuất, hoạt động thương mại đang dần được quan tâm và phát triển ngày càng cao, minh bạch, toàn diện, hướng đến sự tăng trưởng bền vững.
Minh chứng cụ thê nhất chính là sự chuyên đổi ở mức độ rộng hơn, cao hơn trong các thỏa thuận thương mại tự do giữa các quốc gia, khu vực, mà hiện nay được gọi là hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. FTA tác động tạo ra sự tự do thương mại. Khi các FTA được thông qua, các thành viên sẽ được hưởng các ưu đãi, trong đó có việc cắt giảm hoặc xóa bỏ các hàng rào thuế quan và các điều kiện khác theo quy định. Việc này, sẽ làm xuất hiện tình trạng có hàng hóa nhập khâu về nước có giá thành rẻ hơn hàng hóa được sản xuất trực tiếp trong nước do có chỉ phí cao hơn.
Điều này sẽ trực tiếp thúc đây các hoạt động xuất nhập khẩu nội khối và cũng từ đó sẽ thúc đây quá trình chuyển dịch co cau sản xuất và cơ cấu lại ngành thương mại của các nước thành viên. Đối với các FTA thế hệ mới, mức cắt giảm thuế sẽ rất sâu thậm chí là giảm xuống mức 0% trên nhiều hàng hóa và dịch vụ nên mức độ tự do thương mại giữa các thành viên càng rõ rệt. Bên cạnh những cơ hội được đặt ra còn đi liền với những thách thức trong quá trình cơ cấu lại, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, FTA cũng làm chuyên hướng hoạt động thương mại.