Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu Các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã tăng lên nhanh chóng trong thời gian cuối năm 2009 và 2014 ở hầu hết các khu vực toàn cầu và đặt biệt là khu vực Châu Á trở nên sôi động hơn về sự dịch chuyển vốn của thế giới. Các công ty đa quốc gia bắt đầu di dời phân xưởng, nhà máy đến khu vực này, các tập đoàn lớn đầu tư nhà xưởng gia công với quy mô lớn, tạo ra nhiều nghề nghiệp, nâng cao thu nhập địa phương, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho các quốc gia trong khu vực. Theo IMF (2015), tăng trưởng của khu vực Châu Á trong năm 2014 đạt 5,5% trong khi tăng trưởng toàn cầu chỉ ở mức 3,2%. Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vực này đã tăng trưởng mạnh trong khi các châu lục khác thì tăng trưởng chậm.
Tính riêng Đông Nam Á, tổng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào 10 nước thành viên ASEAN tăng 7 %, trong khi tại Châu Âu tăng 13% tương đương với 267 tỷ USD. Các vấn đề thương mại, phát triển và môi trường nhận được nhiều sự quan tâm từ cộng đồng quốc tế trong nhiều thập kỷ qua, như các cuộc đàm phán Tổ chức Thương mại Thế giới và Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) đã vào cuộc với những lo ngại về sự nóng lên toàn cầu và ô nhiễm công nghiệp đã tăng lên từng ngày. Khi lượng phát thải CO2 đã tăng lên nhanh chóng trong 5 năm qua từ mức 30 tỷ tấn năm 2006 lên mức 34,6 tỷ tấn năm 2011. Mà đóng góp nhiều nhất lần lượt là Trung Quốc chiếm 27%, Mỹ là 17%, các quốc gia phát triển trong khu vực Châu Âu 9% ,Nga và Ấn Độ 5% nhưng ngược lại lượng phát thải bình quân CO2 đầu người của Mỹ lại đứng thứ 5 và khu vực đồng tiền chung Châu Âu đứng 40 thế giới trong khi Trung Quốc xếp thứ 122 còn Ấn Độ là 127.
Nghịch lý này dẫn, mọi người lo ngại rằng khi quy định về môi trường trở nên thông thoáng hơn và việc thực thi các quy định môi trường lỏng lẻo ở các nước đang phát triển tạo ra một ưu thế trong việc sản xuất hàng hoá mang ô nhiễm cao. Hạ thấp rào cản thương mại có thể khuyến khích sự HV: Nguyễn Châu Nghĩa Trang 1 Luận văn thạc sĩ kinh tế dịch chuyển của ngành công nghiệp ô nhiễm từ quốc gia có chính sách môi trường nghiêm ngặt đến những quốc gia có chính sách môi trường thông thoáng hơn. Sự thay đổi này có thể gia tăng ô nhiễm toàn cầu hoặc dẫn đến cuộc đua đến đáy trong việc thực hành chính sách môi trường, vì thế mà các quốc gia trở nên miễn cưỡng trong việc siết chặt quy định về môi trường do lo sợ sẽ bị giảm ưu thế cạnh tranh trong thương mại quốc tế. Vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng hơn, không còn nằm trong phạm vi của một quốc gia nữa mà nó trở thành mối quan tâm của cả thế giới, các vấn đề có tính chất xuyên biên giới, bao gồm khói mù và ô nhiễm xuyên biên giới.
Các quốc gia ở Châu Á có ít kiểm soát hơn những gì thổi qua biên giới của họ không giống như Liên minh Châu Âu, hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) thiếu thẩm quyền pháp lý để buộc các thành viên của mình không gây tổn hại đến môi trường. Trường hợp điển hình là thỏa thuận năm 2002 về khói mù xuyên biên giới của ASEA, trong đó 10 nước thành viên của nhóm đã cam kết ngăn chặn và theo dõi đám cháy than bùn. Ban đầu nó được ca ngợi là một thành tựu mang tính bước ngoặt, nhưng cho đến 09/ 2014, Quốc hội Indonesia đã từ chối phê chuẩn cam kết này nhằm bảo vệ các công ty cọ dầu mà đa phần các công ty này đều có cở sở nước ngoài (CNN, 2015) Bên cạnh tăng trưởng kinh tế tại khu vực Châu Á đi kèm sự gia tăng nhanh chóng ô nhiễm ở các nước đang phát triển. Báo cáo của WHO (2014) cho thấy gần một triệu trong số 3,7 triệu người chết vì ô nhiễm không khí trong năm 2012 sinh sống tại khu vực Đông Nam Á.
Mặt khác, một số nhà nghiên cứu biện luận rằng dòng vốn FDI có thể cung cấp, tài trợ vốn trực tiếp, tạo ra ngoại ứng tích cực có thể cải thiện tình trạng ô nhiễm và phát triển môi trường quốc gia bằng cách giới thiệu công nghệ sản xuất, sử dụng năng lượng hiệu quả hơn, áp lực cạnh tranh sẽ loại bỏ bớt các nhà máy kém hiệu quả, lãng phí tài nguyên. Ngoài ra FDI cũng đóng góp tích cực giúp tăng trưởng kinh tế và làm gia tăng thu nhập ở địa phương từ đó thúc đẩy cải thiện các chính sách về môi HV: Nguyễn Châu Nghĩa Trang 2 Luận văn thạc sĩ kinh tế trường do nhu cầu cao hơn về chất lượng môi trường sống góp phần cho môi trường của nước nhận đầu tư được cải thiện. Cuộc tranh luận về mối quan hệ FDI - môi trường đã dẫn đến sự gia tăng của nhiều giả thuyết. Trong số đó là giả thuyết thiên đường ô nhiễm, sự tự do thương mại và sự di chuyển của luồng vốn, sự thay đổi của ngành công nghiệp ô nhiễm từ các quốc gia có quy định môi trường nghiêm ngặt đến quốc gia có quy định môi trường lỏng lẽo.
Giả thuyết này có ba chiều theo Aliyu (2005). Đầu tiên, nếu nhìn vào giả thuyết từ quan điểm lợi thế so sánh, các nước đang phát triển áp đặt các quy định môi trường dễ dàng hơn để thu hút FDI, do đó có lợi thế so với các ngành công nghiệp gây ô nhiễm. Nội dung thứ hai là luật môi trường mạnh mẽ ở các nước đang phát triển sẽ dẫn đến giảm thiểu chất thải nguy hại thông qua FDI ở các nước đang phát triển. Nội dung thứ ba là sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên khổng lồ của các nước phát triển đặc biệt là tài nguyên không thể tái tạo như dầu mỏ, gỗ, quặng và các nguồn tài nguyên quý, dẫn đến sự dịch chuyển luồng vốn mang ô nhiễm cao đến những nguồn tài nguyên mới ở những nước đang phát triển.
Do những lập luận trên tác giả cho rằng các quốc gia đang phát triển trong khu vực châu Á cần được nghiên cứu nhằm kiểm chứng luồng vốn FDI chảy vào các nước đang phát triển tác động đến môi trường theo chiều hướng tốt hơn hay xấu hơn. Từ những quan điểm trái chiều về tác động của FDI đối với môi trường dẫn tác giả đến với đề tài nghiên cứu “Đánh giá tác động của FDI đến phát thải CO2 ở các nước đang phát triển trong khu vực Châu Á” với mục tiêu tìm hiểu ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên ô nhiễm không khí mà đại diện là lượng phát thải CO2 ở các nước đang phát triển tại khu vực Châu Á trong giai đoạn 1996 đến 2012. Câu hỏi nghiên cứu FDI có làm cho môi trường của khu vực nhận đầu tư trở nên tốt hơn hay xấu hơn ? HV: Nguyễn Châu Nghĩa Trang 3 Luận văn thạc sĩ kinh tế Mức thu nhập GDP bình quân đầu người bao nhiêu mà tại đó lượng phát thải CO2 đạt cực đại ? 1. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá tác động của FDI đến môi trường không khí thông qua lượng khí thải CO2 của các nước trong khu vực Châu Á từ năm 1996 đến 2012.
Tìm ra mức thu nhập GDP bình quân đầu người mà tại đó lượng phát thái CO2 là cực đại. Đưa ra kết luận và những kiến nghị về các chính sách liên quan đến FDI và môi trường. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Lượng phát thải CO2 bình quân đầu người, luồng vốn FDI chảy vào, GDP bình quân đầu người, giá trị sản lượng sản xuất gia tăng, giá trị sản lượng công nghiệp, thực hành chương trình đánh giá tác động môi trường của Ủy ban Châu Âu (EIA).
Phạm vi nghiên cứu Các quốc gia đang phát triển trong khu vực châu Á cụ thể là các nước: Việt Nam, Campuchia, Indonesia, Phillipin, Malaysia, Thái Lan, Ấn độ, Sri Lanka, Bangladesh, Kazakhstan, Kyrgyz Republic, Mongolia, Uzabekistan, Pakistan, Trung Quốc, Ấn Độ. Tác giả loại trừ Myamar vì đây là quốc gia mới mở cửa vào năm 2012 nên tác động của FDI ở đất nước này là không rõ ràng. Ngoài ra tác giả cũng loại trừ Lào vì quốc gia này trình độ phát triển thấp hơn và không có số liệu về lượng phát thải CO2 cũng như các số liệu khác là không đầy đủ. Bên cạnh đó tác giả cũng không lấy thêm các quốc gia có bất ổn chính trị như Iraq, Afghanistan, Syria …vào dữ liệu nghiên cứu vì nguồn vốn FDI chảy vào các nước này rất ít chủ yếu là các lĩnh vực khai thác HV: Nguyễn Châu Nghĩa Trang 4 Luận văn thạc sĩ kinh tế dầu khí nên có thể tạo ra một ước lượng sai về tác động của FDI đến lượng phát thải CO2.
Giả thiết nghiên cứu Tác giả cho rằng việc đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ làm cho giảm tổn hại môi trường trong quá trình tăng trưởng và phát triển của quốc gia nhận đầu hay cụ thể hơn là việc giảm lượng phát thải CO2 trong quá trình phát triển kinh tế. Ý nghĩa của nghiên cứu Phân tích mối liên hệ giữa FDI và lượng phát thải CO2, trên cơ sở hiểu được tác động của FDI từ đó có những chính sách thu hút FDI hợp lý giúp phát triển kinh tế bền vững và cải thiện môi trường không khí của những quốc gia đang phát triển. Kết cấu của luận văn Gồm 5 chương chủ yếu sau: Chƣơng 1: Tổng quan, tóm lược các vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, những mô hình nghiên cứu, những điểm nổi bật của luận văn và kết cấu luận văn. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết, trình bày các khái niệm về FDI, các đặc điểm của FDI, các khái niệm về môi trường, ô nhiễm môi trường có liên quan đến đề tài.
Chƣơng 3: Phương pháp nghiên cứu, trình bày các mô hình nghiên cứu và cách thu thập dữ liệu nghiên cứu. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu, trình bày kết quả thống kê mô tả, phân tích kết quả mô hình kinh tế lượng, xác định tác động của FDI đến môi trường là đồng biến hay nghịch biến. Chƣơng 5: Kết luận và khuyến nghị, đưa ra các khuyến nghị dựa trên các kết quả phân tích, hạn chế và hướng tiếp theo của đề tài. HV: Nguyễn Châu Nghĩa Trang 5 Luận văn thạc sĩ kinh tế CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.