Chương 1. Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Kết quả và thảo luận Chương 5. Kết luận và khuyến nghị 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Lịch sử phát triển ESG Các vấn đề về ESG lần đầu tiên được đề cập vào năm 2006 trong Báo cáo Nguyên tắc đầu tư có trách nhiệm (Principle for Responsible Investment) của Liên Hiệp Quốc bao gồm các báo cáo của Freshfield và “Who cares wins”. Những nỗ lực thực hiện ESG được yêu cầu phải đưa vào hoạt động đánh giá tài chính của các doanh nghiệp, tập trung hơn vào việc phát triển đầu tư bền vững.
Phát triển bền vững không chỉ đơn thuần là khái niệm mà nó còn là quá trình thực tiễn áp dụng một cách vững chắc trong từng lĩnh vực Môi trường - Xã hội - Quản trị của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần thực hành ESG một cách bài bản, có chiến lược, bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên, duy trì và nâng cao nguồn nhân lực cho xã hội nhưng vẫn không làm ảnh hưởng đến các chiến lược đầu tư, kinh doanh phát triển của doanh nghiệp. Hiệu suất của các doanh nghiệp trong việc thực hiện ESG đã bắt đầu trở nên nổi bật hơn trong hai thập kỷ qua. Do sự kỳ vọng của các Nhà đầu tư về một biện pháp phát triển khách quan và bền vững hơn đã thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển hệ thống thực hành ESG trong những năm qua.
Vào những năm 2010, một số cơ quan đã bắt đầu tham gia trên đường đua ESG, tiên phong là Asset4 - sau trở thành một phần của Refinitiv đã bắt đầu cung cấp hệ thống đánh giá, xếp hạng ESG. Ngoài ra, còn có các cơ quan khác như Dịch vụ cổ đông thể chế (ISS), Sustainalytics, RepRisk,. Tuy nhiên, vào năm 2021, Thomson Reuters/Refinitiv đã bắt đầu cung cấp phạm vi rộng hơn về xếp hạng ESG cho hơn 6000 doanh nghiệp toàn cầu song song với những dữ liệu tài chính khác, cho phép phân tích, đánh giá được cụ thể tình hình hoạt động của các doanh nghiệp đó. Điều này dẫn đến Thomson Reuters/Refinitiv trở nên nổi tiếng trong lĩnh vực cung cấp các dữ liệu liên quan đến lĩnh vực ESG của các doanh nghiệp (Bofinger và cộng sự, 2021; Flammer, 2021; Hawn và Ioannou, 2016).
Khái niệm ESG Chỉ số ESG là một hệ thống thang đo dùng để đánh giá một cách khách quan về hiệu quả thực hành ESG của doanh nghiệp và rủi ro của doanh nghiệp đó trong 3 tiêu chí Môi trường, Xã hội và Quản trị. ESG tổng thể bao gồm các điểm thành phần của 3 tiêu chí trên, cho phép đánh giá được mức độ bền vững của một công ty và biết được những doanh nghiệp nào ít rủi ro hơn so với các doanh nghiệp cùng ngành với chúng. Một doanh nghiệp công bố xếp hạng ESG càng cao chứng tỏ được doanh nghiệp đó đã và đang thực hành tốt ESG, rủi ro hoạt động thấp và dễ dàng thu hút được đầu tư. Environment - Môi trường Các tiêu chí môi trường đánh giá việc các doanh nghiệp có thực hiện đầy đủ các yêu cầu bao gồm: quy trình quản lý, xử lý chất thải của doanh nghiệp, sử dụng nguồn năng lượng tái tạo, phát thải carbon, hành động đối phó với các vấn đề biến đổi khí hậu,.
Social - Xã hội Các tiêu chí xã hội xem xét mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các biên liên quan trong và ngoài công ty. Trong đó, bao gồm những tiêu chí như: sự công bằng trong việc trả lương cho người lao động, đảm bảo quyền riêng tư, bảo mật cho khách hàng, đấu tranh chống phân biệt chủng tộc và giới tính,. Một doanh nghiệp đưa ra những đặc quyền, lợi ích tốt cho nhân viên dễ dàng được chú ý bởi các nhà đầu tư ESG. Theo Zumente & Bistrova (2021), việc thực hiện tốt tiêu chí này có thể tạo ra những lợi ích lâu dài vì làm tăng sự hài lòng của nhân viên với doanh nghiệp, thúc đẩy nhân viên cống hiến hết mình, tạo ra những lợi ích vượt trội hơn cho công ty.
Governance - Quản trị Về cơ bản, quản trị đánh giá quy trình, cách mà một công ty tổ chức, quản lý bộ máy của mình ra sao. Thông qua cách các nhà quản lý điều hành doanh nghiệp, đưa ra chính sách, Hội đồng quản trị dùng phương pháp nào để tránh xung đột với các cổ đông, chia sẻ lợi ích cho các cổ đông một cách công bằng, minh bạch, hệ thống báo cáo tài chính, kế toán minh bạch, rõ ràng,., có thể đánh giá được điểm thành phần quản trị (G) của doanh nghiệp.3 Lợi ích khi đầu tư ESG Mặc dù có nhiều lý thuyết thừa nhận rằng thị trường vốn đã nắm giữ tốt vai trò phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả trong hàng thập kỷ qua, giúp cho nhiều doanh nghiệp 6 tạo ra nhiều của cải hơn. Tuy nhiên, người ta nhận ra rằng tổng giá trị các doanh nghiệp tạo ra được còn phụ thuộc vào một nhóm các bên liên quan như người lao động, cổ đông, cộng đồng nơi doanh nghiệp hoạt động,. Trong vài năm gần đây, nhận thức của xã hội đã tăng lên rằng việc doanh nghiệp tiếp xúc với các yếu tố như rủi ro môi trường và các vấn đề quản trị có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến giá trị doanh nghiệp trong dài hạn.
Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ bê bối gian lận kế toán của tập đoàn Enron năm 2001, sự cố tràn dầu của Deepwater Horizon năm 2010, vụ bê bối về quyền riêng tư dữ liệu của Facebook năm 2018,. Điều này thúc đẩy các doanh nghiệp và các nhà đầu tư tìm cơ hội đầu tư ESG nhiều hơn. Schanzenbach và các cộng sự (2020), nhìn chung, các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của công ty cho thấy rằng các công ty có điểm môi trường và xã hội cao có thu nhập cao hơn và rủi ro thấp hơn so với các công ty có điểm môi trường và xã hội thấp hơn. Nhiều nghiên cứu nhận định rằng việc theo đuổi phát triển bền vững giúp các doanh nghiệp nâng cao được uy tín của mình trong quá trình làm việc, tương tác với các bên liên quan (Carroll và Buchholtz, 2008).
Thứ nhất, ESG có thể thúc đẩy sự quan tâm của người tiêu dùng nghiên cứu từ MC Kinsey chỉ ra rằng khách hàng sẵn sàng chi trả tiền để “sống xanh” (go green). Có đến 70% người tiêu dùng được khảo sát về việc mua hàng trong nhiều ngành bao gồm ô tô, xây dựng, điện tử,. và cho biết họ sẽ trả thêm 5% cho một sản phẩm “xanh” nếu sản phẩm đó hoàn toàn đáp ứng được các tiêu chuẩn tương tự một sản phẩm thay thế “không xanh”. Một doanh nghiệp chú trọng đến môi trường và đưa ra thị trường các sản phẩm thân thiện với môi trường sẽ nhận được đánh giá cao từ người tiêu dùng, giúp cho sản phẩm dễ dàng tiếp cận thị trường, rút ngắn chu kỳ lưu kho của doanh nghiệp.
Thứ hai, việc thực hành ESG có thể giúp doanh nghiệp giảm thiểu được nhiều chi phí trong suốt quá trình hoạt động (chẳng hạn như chi phí nguyên liệu thô, chi phí của xử lý carbon) - những chỉ số này có thể ảnh hưởng đến 60% lợi nhuận của doanh nghiệp. Thứ ba, một doanh nghiệp thực hiện tốt ESG sẽ có các cơ chế quản trị tốt giúp nâng cao chất lượng nhân viên, thu hút và giữ chân những nhân viên chất lượng, nâng cao động lực của nhân viên nhằm tăng năng suất tổng thể của doanh nghiệp. Theo Alex Edmans (Trường kinh doanh London), các công ty thuộc danh sách “100 công ty tốt 7 nhất để làm việc” của Fortune tạo ra lợi nhuận cổ phiếu cao hơn 2.8% mỗi năm so với các công ty cùng ngành trong cùng khoảng thời gian hơn 25 năm.Thứ tư, việc đầu tư ESG có thể nâng cao lợi tức đầu tư bằng cách phân bổ vốn cho các cơ hội đầu tư bền vững hơn như năng lượng tái tạo, giảm thiểu chất thải. Ngoài ra, việc nâng cao được uy tín của doanh nghiệp có thể giúp doanh nghiệp kêu gọi vốn dễ dàng hơn và đi vay dễ dàng hơn.
Điều này có thể dẫn đến chu kỳ tiền mặt của doanh nghiệp ngắn hơn, giảm thiểu được khả năng mất thanh khoản.2 CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 2.1 Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) Sự phát triển của Báo cáo phát triển bền vững và ESG bắt nguồn từ ý tưởng về lý thuyết các bên liên quan của R. Edward Freeman vào năm 1984 (Velte, 2017). Lý thuyết này tuyên bố rằng các cổ đông không phải là đối tượng quan trọng duy nhất cần được quan tâm, mà còn có các bên liên quan khác như nhân viên, cộng đồng, công dân. Tuyên bố đó được hỗ trợ bởi nghiên cứu Donaldson và Preston (1995) ở Tarigan và Semuel (2014), nghiên cứu đã tuyên bố rằng các công ty cũng chịu trách nhiệm đối với các chủ thể khác bên cạnh các cổ đông.
Các đối tượng được gọi là các bên liên quan theo Freeman (1984) trong Velte (2017) là nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, nhà tài chính, cộng đồng, chính phủ, đảng chính trị, hiệp hội thương mại và đôi khi là đối thủ cạnh tranh. Lý thuyết các bên liên quan này cho thấy tổ chức có nghĩa vụ phải đối xử bình đẳng giữa các bên liên quan và trong trường hợp các bên liên quan có mâu thuẫn lợi ích, doanh nghiệp cũng có nghĩa vụ bảo đảm được sự hài hoà tối ưu giữa họ. Vì nhu cầu của mỗi bên tham gia thì khác nhau và luôn biến động nên tổ chức sẽ tập trung vào phục vụ nhu cầu của các bên liên quan có lợi ích cao và trực tiếp và đảm bảo rằng lợi ích của những bên còn lại cũng được đáp ứng qua việc tổ chức họ thực hiện chiến lược kinh doanh và công bố thông tin phù hợp với các tiêu chuẩn và giá trị chung. Lý thuyết còn được sử dụng để giải thích cho nguyên nhân một số tổ chức chọn lựa và tự nguyện thực hiện kế toán quản trị môi trường (Environmental management accounting - EMA) nhằm phục vụ nhu cầu thông tin bảo vệ môi trường tăng cao từ phía các cơ quan chính quyền, các tổ chức kinh tế, nhà đầu tư và người tiêu dùng, doanh nghiệp.
8 Lý thuyết các bên liên quan là một trong nhiều lý thuyết có tác động đối với việc xây dựng và ứng dụng của kế toán quản trị môi trường được dùng để chứng minh cho kế toán quản trị chi phí môi trường.