Chương 1 – GIỚI THIỆU: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Tác giả trình bày lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu. Bên cạnh đó, tác giả cũng xác định đối tượng, phạm vi đối tượng nghiên cứu và phạm vi dữ liệu nghiên cứu cùng với ý nghĩa của nghiên cứu về mặt lý thuyết và thực tiễn Chương 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT: Tác giả trình bày những khái niệm nghiên cứu phục vụ cho đề tài, các đề tài nghiên cứu liên quan đi trước được tham khảo. Từ đó, xây dựng giả thiết nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu.
Chương 3 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Tác giả xác định nguồn dữ liệu, mô hình nghiên cứu hoàn chỉnh, trình bày phương pháp phân tích dữ liệu và các bước kiểm chứng dữ liệu sau khi phân tích. Chương 4 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: Trình bày kết quả nghiên cứu, xác định hệ số hồi quy thông qua kết quả điểm số ESG đã tổng hợp được sau phân tích KLD. 7 Diễn giải các biến độc lập để thấy được mối quan hệ giữa phát triển bền vững doanh nghiệp (ESG) và Suất sinh lợi cổ phiếu (R) Chương 5 – KẾT LUẬN: trong chương này, các kết quả nghiên cứu sẽ được tóm tắt và tổng kết ở phần kết luận. Từ kết quả đó, nghiên cứu sẽ đưa ra một số đóng góp của đề tài và hàm ý quản lý mà đề tài mang lại.
Bên cạnh đó, cũng chỉ ra những khó khăn và hạn chế mà đề tài còn tồn đọng, đồng thời đề xuất hướng mở rộng cho nghiên cứu tiếp theo. 8 CHƯƠNG II - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2. Phát triển bền vững doanh nghiệp (Corporate Sustainable Development) Khái niệm “Doanh nghiệp bền vững” kể từ khi được đưa vào các tài liệu học thuật, đã nhận được nhiều sự quan tâm từ các nhà quản lý, cũng như các nhà nghiên cứu. Ngày nay, người ta hay nhầm lẫn giữa khái niệm doanh nghiệp bền vững và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR), hai khái niệm này mặc dù có liên quan đến nhau nhưng lại hoàn toàn khác biệt nhau.
Theo Bansal và Song (Bansal & Song, 2017), khái niệm doanh nghiệp bền vững nhấn mạnh sự gắn kết của doanh nghiệp trong một hệ thống lớn hơn và vai trò của doanh nghiệp trong hệ thống đó. Ngược lại, CSR nhấn mạnh trách nhiệm đạo đức của các doanh nghiệp và các chuẩn mực hướng dẫn hành vi của doanh nghiệp (Scherer & Palazzo, 2011). Để định nghĩa cho phát triển bền vững doanh nghiệp, rất nhiều phát biểu đã được đưa ra. Một số trong đó có thể kể đến như: Phát triển bền vững là đóng góp vào sự phát triển bằng cách cung cấp đồng thời các lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường.
Phát triển bền vững là quá trình đạt được mục tiêu con người phát triển toàn diện, kết nối, bình đẳng, thận trọng và an toàn. (Hart & Milstein, 2003) Phát triển bền vững là các hoạt động của công ty chủ động tìm cách đóng góp cân bằng bền vững giữa các khía cạnh kinh tế, môi trường và xã hội, cũng như mối tương quan của chúng bên trong và xuyên suốt thời gian quản lý hệ thống doanh nghiệp (bao gồm Vận hành và Sản xuất, Quản lý và Chiến lược, Hệ thống tổ chức, Thu mua và Tiếp thị, Đánh giá và Truyền thông) với các bên liên quan. (Lozano, 2012) 9 Các doanh nghiệp phát triển bền vững tham gia vào các hoạt động nhằm (1) kéo dài tuổi thọ hữu ích về mặt xã hội của tổ chức, (2) nâng cao năng lực của trái đất trong việc duy trì và đổi mới khả năng tồn tại của sinh quyển và bảo vệ tất cả loài sinh vật, (3) nâng cao năng lực của xã hội để xã hội có thể tự duy trì và giải quyết các vấn đề chính của nó, và (4) duy trì mức phúc lợi tốt cho các thế hệ nhân loại hiện tại và tương lại., 2014) Quản lý bền vững đề cập đến các phương pháp đối phó với các vấn đề xã hội, môi trường và kinh tế một cách tổng hợp để chuyển đổi các tổ chức theo hướng đóng góp cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế và xã hội, trong giới hạn của hệ sinh thái (Schaltegger và c., 2016) Một doanh nghiệp bền vững là một tổ chức tạo ra các giá trị tích cực về môi trường, xã hội và kinh tế trong cả mạng lưới giá trị, do đó duy trì khả năng phát triển mãi mãi của con người và các sự sống khác trên hành tinh này. Một doanh nghiệp như vậy không những không gây hại mà còn tạo ra lợi ích xã hội đồng thời tái tạo môi trường (“làm điều tốt” – “doing good) để thu được các lợi ích tài chính (“để được tiếng thơm” – “doing well”).
ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị) ESG gồm 3 thành phần: Môi trường (E), Xã hội (S) và Quản trị (G), đây là một thước đo phi tài chính ngày càng nổi bật. Thông thường, yếu tố E và S thu hút được mối quan tâm của công chúng hơn là G. Tuy nhiên, Busch, Bauer và Orlitzky (Busch và c., 2016) đã nhấn mạnh trong nghiên cứu của mình rằng khi thảo luận về các vấn đề 10 môi trường và xã hội, phải đồng thời kết hợp cấu trúc quản trị thích hợp để phân bổ nguồn lực hiệu quả và thúc đẩy khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Theo S&P Global, các vấn đề về môi trường bao gồm rủi ro khí hậu, khan hiếm nước, nhiệt độ khắc nghiệt, lượng khí thải carbon đang đe dọa và làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Tình trạng này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần có các sáng kiến về môi trường để hoàn thành nhiệm vụ và trách nhiệm nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường thông qua việc tuân thủ các quy định về sinh thái (Limkriangkrai và c. Hiểu được rủi ro của môi trường là hiểu được “E” trong ESG. “E” tính đến việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên của doanh nghiệp và tác động của hoạt động doanh nghiệp đến môi trường trực tiếp và gián tiếp thông qua chuỗi cung ứng.
Nói cách khác, yếu tố E xem xét những vấn đề thể hiện rủi ro hữu hình và cơ hội trên khía cạnh môi trường cho các bên liên quan cũng như cổ đông doanh nghiệp. Khía cạnh xã hội “S” xem xét mối quan hệ của doanh nghiệp với các bên liên quan bên trong và bên ngoài doanh nghiệp (Fitzpatrick và c. Các yếu tố thuộc nhóm S, thường là các vấn đề về chất lượng sản phẩm hoặc khách hàng, bảo mật dữ liệu, quan hệ lao động hoặc các vấn đề về chuỗi cung ứng, các vấn đề này thường tác động đến doanh nghiệp và phá hủy giá trị của doanh nghiệp tạo ra nếu không được quản lý. Ở dạng đơn giản nhất, “S” là phúc lợi xã hội liên quan đến quyền, hạnh phúc và lợi của con người trong cộng đồng, bao gồm các tiêu chuẩn lao động, giới tính và sự đa dạng, sự gắn kết nhân viên, quan hệ cộng đồng và quyền con người (Sultana và c.
Đây là khía cạnh quan tâm nhất của các quỹ đầu tư trách nhiệm xã hội (SRI). Các nhà đầu tư SRI thường tìm kiếm các doanh nghiệp quan tâm đến vấn đề cộng đồng, công bằng xã hội và đạo đức doanh nghiệp, bên cạnh việc đấu tranh chống lại phân biệt chủng tộc, giới tính. Các tiêu chuẩn “G” trong quản trị phát triển bền vững đảm bảo một doanh nghiệp sử dụng các phương pháp kế toán chính xác và minh bạch, theo đuổi sự liêm chính và 11 đa dạng trong việc lựa chọn lãnh đạo cũng như chịu trách nhiệm trước cổ đông. Theo S&P Global, yếu tố “G” thường bị bỏ qua khi xem xét các vấn đề liên quan đến “E” và “S”, tuy nhiên việc quản trị yếu kém chính là cốt lõi của nhiều bê bối lớn ở các doanh nghiệp, có thể kể đến như vụ bê bối kiểm tra khí thải của Volkswagen hay việc sử dụng sai dữ liệu của Facebook.
Do đó, hiểu được “G” là hết sức quan trọng, đặc biệt là khi rủi ro và cơ hội quản trị sẽ tăng lên theo sự phát triển của thái độ xã hội, chính trị và văn hóa. Các tiêu chí đánh giá ESG có thể khác nhau tùy theo cá nhân, quỹ đầu tư hay doanh nghiệp. Chẳng hạn, Pension& Invesment (Mỹ) đã đặt ra các tiêu chí ESG như sau khi đánh giá đầu tư: Bảng 2. Các tiêu chí đánh giá ESG của Pension & Invesment Môi trường (E) - Các rủi ro vật lý liên quan đến biến đổi khí hậu - Các rủi ro chuyển đổi liên quan đến biến đổi khí hậu - Phát thải khí nhà kính - Chất thải và ô nhiễm - Mất đa dạng sinh học Xã hội (S) - Các chuẩn mực liên quan đến lao động - Quyền con người - An toàn và sức khỏe nơi làm việc - Vi phạm quyền riêng tư thông tin Quản trị (G) - Thù lao điều hành - Hối lộ và tham nhũng - Đạo đức doanh nghiệp Nguồn: Pension & Invesments (pionline.
ESG tác động lên doanh nghiệp 2. Lý thuyết các bên hữu quan 12 Cụm từ “Các bên hữu quan” lần đầu tiên xuất hiện trong một biên bản nội bộ của Viên nghiên cứu Stanford vào năm 1963 (bây giờ là SRI International, Inc. Theo Freeman (1984), các bên hữu quan có thể là bất kỳ nhóm hoặc cá nhân nào có ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi việc đạt được mục tiêu của công ty. Lý thuyết các bên hữu quan cũng được khởi đầu từ nghiên cứu của Freeman (Freeman, 1984), được trình bày trong cả khuôn khổ lý thuyết tổ chức (Freeman, 1984; Freeman & Jr.
Gilbert, 1988; Freeman & Reed, 1983) và trong khuôn khổ đạo đức kinh doanh (Carroll, 1989). Đây là một bước tiến ngoài lý thuyết tân cổ điển trong đó mục tiêu của công ty là tối đa hóa lợi nhuận và bên liên quan duy nhất trong việc đạt được mục tiêu này là chủ sở hữu công ty. Lý thuyết các bên hữu quan cho rằng hoạt động kinh doanh là tập hợp các mối quan hệ giữa các bên có liên quan trong các hoạt động tạo nên doanh nghiệp (Freeman, 1984; Jones, 1995), hay rõ hơn là cách khách hàng, nhà cung cấp, nhân viên, các nhà tài trợ (cổ đông, trái chủ, ngân hàng…), cộng đồng và Ban điều hành công ty tương tác với nhau để cùng nhau tạo ra giá trị. Công việc của nhà điều hành là quản lý và định hình các mối quan hệ này, đối xử công bằng giữa các bên hữu quan để tạo ra càng nhiều giá trị càng tốt cho các bên hữu quan (Freeman, 1984).