CHƯƠNG 1 TỒNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ LUẬN ÁN 1. Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Các nghiên cứu nước ngoài và trong nước về tác động của FDI đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế khá đa dạng. Một số công trình nghiên cứu đánh giá tác động gián tiếp của FDI tới chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thông qua tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế, dựa trên những đóng góp của FDI vào GDP, chuyển dịch cơ cấu. Một số nghiên cứu khác tập trung phân tích tác động trực tiếp của FDI tới chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Tổng quan nghiên cứu dưới đây được chia thành các nghiên cứu nước ngoài và các nghiên cứu trong nước về tác động trực tiếp và tác động gián tiếp của FDI tới chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Các nghiên cứu ở nước ngoài 1. FDI tác động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Các nghiên cứu đánh giá tác động trực tiếp của FDI tới chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại một nước hay một nhóm nước, cụ thể như sau: Trong phân tích 29 quốc gia thuộc nhóm các quốc gia châu Phi hạ Sahara giai đoạn 2000 – 2015, Ssozi và Bbaale (2019) phát hiện ở các quốc gia này, cơ chế bắt kịp là rất quan trọng để có được công nghệ hiện đại. Thay đổi cơ cấu đòi hỏi công nghệ hiện đại, vốn vật chất, vốn con người và môi trường kinh doanh thuận lợi.
Cơ chế này cho phép các nước thu nhập thấp tăng năng suất bằng cách tận dụng kiến thức và công nghệ hiện có ở các nền kinh tế hiện đại. Do hầu hết các tài sản hữu hình thể hiện qua công nghệ trong các nước này đều được nhập khẩu, nên các động lực bắt kịp của thương mại và đầu tư quốc tế cũng như khả năng hấp thụ trong nước là mấu chốt cho sự thay đổi cơ cấu. Nghiên cứu sử dụng GMM hai bước để kiểm tra tác động của các yếu tố (gồm nhập khẩu, FDI, vốn con người và chỉ số tự do kinh tế) đối với sự thay đổi cơ cấu được đo lường bởi tỷ trọng lao động và GDP của các khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Bằng chứng cho thấy FDI có tác động dương đối với tỷ trọng lao động khu vực công nghiệp và tỷ trọng GDP khu vực nông nghiệp, các trường hợp còn lại là tác động âm và có ý nghĩa thống kê.
Nguyên nhân của tình trạng trên là do dòng vốn FDI vào các nước này bị chi phối 9 bởi các hoạt động dựa trên tài nguyên thiên nhiên, như dầu mỏ, khoáng sản và sản xuất nông nghiệp. Các hoạt động này thâm dụng vốn do đó không tạo ra nhiều sự dịch chuyển trong việc làm. Tương đồng với nghiên cứu trên, Jiang (2014) kiểm tra thực nghiệm mối quan hệ giữa độ mở thương mại, FDI và thay đổi cơ cấu của 31 tỉnh ở Trung Quốc, thông qua mô hình dữ liệu bảng giai đoạn 1982 – 2011. Biến phụ thuộc đại diện cho thay đổi cơ cấu là sự thay đổi lao động qua các năm của từng khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.
Kết quả hồi quy ủng hộ tính hữu dụng của mô hình Lewis cho việc phân tích quá trình công nghiệp hóa ở Trung Quốc. Nghiên cứu cho thấy độ mở thương mại và FDI đóng vai trò quan trọng trong quá trình CDCC ở Trung Quốc. Bằng chứng thu được cho thấy các yếu tố đó đã thúc đẩy CDCC các vùng bởi việc chuyển dịch lao động từ khi vực nông nghiệp sang công nghiệp chế biến chế tạo và sự CDCC ở các vùng nghèo hơn có xu hướng nhanh hơn. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu về tác động của FDI đến CNH của các nước tiếp nhận đầu tư, cơ cấu ngành kinh tế thay đổi theo hướng CNH, điển hình như nghiên cứu của Gui-Diby và Renard (2015).
Với chỉ số đo lường mức độ công nghiệp hóa là giá trị gia tăng của ngành công nghiệp hay tỷ trọng việc làm khu vực công nghiệp trong tổng thể, Gui-Diby và Renard (2015) xem xét tác động của FDI đến CDCC nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa ở 49 nước châu Phi giai đoạn 1980-2009. Kết quả nghiên cứu cho thấy FDI không tác động đáng kể đến quá trình công nghiệp hóa của các nước này. Nguyên nhân của tình trạng trên là do sự thất bại của chính phủ trong việc thiết lập môi trường thuận lợi cho FDI thúc đẩy công nghiệp hóa, không tạo ra sự liên kết hoặc liên kết yếu giữa MNCs và các doanh nghiệp địa phương. Hạn chế của nghiên cứu này do dựa trên giả định tất cả các nước có chung định hướng phát triển thông qua công nghiệp hóa, giới hạn về số liệu đối với việc làm trong khu vực công nghiệp và sự phá vỡ cấu trúc của FDI theo ngành trong giai đoạn này.
Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về tác động của FDI và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sử dụng nhiều phương pháp và nghiên cứu ở các khía cạnh, phạm vi khác nhau. Một số nghiên cứu tập trung vào việc đưa ra kết luận về vai trò, bản chất và tác động của FDI đối với nền kinh tế, một số nghiên cứu khác tập trung vào việc xem xét cụ thể tác động của nó trên phạm vi rộng của các khía cạnh ở mọi quốc gia, mọi khu vực. FDI tác động gián tiếp đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Các nghiên cứu đánh giá tác động gián tiếp của FDI tới chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại một nước hay một nhóm nước, điển hình như Nicolas (2003) nhận định FDI là nhân tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Hàn Quốc. Kết quả cho thấy FDI đóng góp có chọn lọc vào việc phát triển năng lực công nghệ của Hàn Quốc và đóng góp vào sự thành công của chiến lược hướng vào xuất khẩu của nước này.
Quan trọng hơn, bằng cách chuyển nguồn vốn FDI vào các ngành cụ thể, các chính sách công đã góp phần nâng cao lợi thế cạnh tranh của các nhà sản xuất Hàn Quốc. Adejumo (2020) cho thấy FDI chỉ tác động đến sản xuất xuất khẩu, ảnh hưởng không đáng kể đến giá trị gia tăng của ngành sản xuất do phần lớn các công ty sản xuất xuất khẩu là thuộc doanh nghiệp nước ngoài không phải doanh nghiệp trong nước. Phát triển công nghiệp đóng vai trò quan trọng để đạt được các mục tiêu phát triển của Nigeria và nhiệm vụ đa dạng hóa kinh tế thông qua thay đổi cơ cấu. Kết quả của nghiên cứu này đã chỉ ra rằng Nigeria có thể sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài như một nấc thang để phát triển công nghiệp nếu chính phủ thu hút đúng loại vốn FDI vào lĩnh vực sản xuất.
Đối với ngành công nghiệp, sản xuất, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng vốn FDI có xu hướng tác động mạnh đến lĩnh vực này cả trực tiếp lẫn gián tiếp qua các nhân tố khác. Vốn FDI tác động dương, trực tiếp đến lĩnh vực CNH, từ đó tác động lên quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành trong các nghiên cứu của Jie và Shamshedin (2019) về công cuộc công nghiệp hóa tại Ethiopia từ năm 1992 - 2017 trong cả ngắn hạn và dài hạn, trong đó, tác động trong dài hạn mạnh mẽ và rõ nét hơn. Hay FDI trong dài hạn tác động tích cực đến giá trị gia tăng của ngành sản xuất tại Nigeria từ 1970 - 2013 (nghiên cứu qua giá trị gia tăng của các công ty) (Okoli & Agu, 2015). Mặt khác, FDI có tác động gián tiếp đến lĩnh vực công nghiệp thông qua các nhân tố như sự phân bổ lao động giữa các ngành, chuyển giao công nghệ - tri thức, tiền lương.
Những yếu tố này được xem là những nhân tố chính của quá trình công nghiệp hóa (Shujie Yao & Kailei Wei, 2006). M¨uhlen và Escobar (2020) cho thấy FDI tác động đến sự phân bổ lao động giữa các ngành, nhất là lĩnh vực công nghiệp, từ đó tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Mexico theo hướng CNH từ năm 2006 - 2016. Nghiên cứu của Pineli và các cộng sự (2019) cũng cho thấy FDI thúc đẩy tỷ trọng lao động trong các lĩnh vực công nghệ cao, từ đó tác động đến quá trình chuyển dịch CCKT. 11 Đối với thúc đẩy nền kinh tế theo hướng CNH qua chuyển giao công nghệ - tri thức, Shujie Yao và Kailei Wei (2006) cho rằng, qua chuyển giao công nghệ, FDI đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất khi xem xét nền kinh tế công nghiệp mới nổi - Trung Quốc từ năm 1979 – 2003.
Ngoài ra, FDI, nợ nước ngoài và giá trị xuất khẩu là các nhân tố quan trọng và ngoại sinh góp phần thay đổi cơ cấu và tăng trưởng kinh tế ở Bangladesh (Hosain, 2006). Thông qua kiểm định tương quan, nhân quả giữa các biến và mô hình kinh tế lượng với chuỗi thời gian, với mức độ công nghiệp hóa được xác định bởi tỷ lệ đầu ra công nghiệp với đầu ra nông nghiệp, được xem là đại diện cho sự thay đổi cơ cấu nền kinh tế. Hosain (2006) cho rằng có mối tương quan dương giữa thay đổi cơ cấu và FDI được xác nhận với hệ số tương quan khá cao 0,87. Kết quả kiểm định nhân quả Granger cũng cho thấy có nhân quả từ các biến FDI, nợ nước ngoài và giá trị xuất khẩu đến thay đổi cơ cấu, góp phần công nghiệp hóa ở Bangladesh.
Khi phân tích đóng góp của FDI đến thay đổi cơ cấu ở nhóm các nền kinh tế khác nhau trong quá trình chuyển đổi, Kalotay (2010) cho rằng FDI là một tác nhân cho những thay đổi cơ cấu nhưng không đồng đều. Theo đó, FDI tạo ra sự thay đổi cơ cấu mạnh mẽ ở các nước thành viên mới của EU và tác động tiêu cực ở Liên bang Nga. Ở các nước thuộc cộng đồng các quốc gia độc lập có FDI khiêm tốn và các tác động cơ cấu của nó cũng không rõ ràng, dòng vốn FDI chảy vào còn quá hạn chế để có thể có bất kỳ tác động đáng kể nào. Dhahri và Omri (2019) nghiên cứu về tác động của FDI và vốn viện trợ nước ngoài lên sản xuất nông nghiệp tại 50 nước đang phát triển nhận định rằng FDI có tác động tích cực và đáng kể lên sản xuất nông nghiệp của các nước.
Tuy nhiên, chỉ tài trợ cho sản xuất nông nghiệp thông qua FDI hoặc chỉ viện trợ dường như là không đủ. Sự hợp nhất giữa FDI và viện trợ là giải pháp cho việc mở rộng sản xuất nông nghiệp ở các nước sở tại.