phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn được cấu trúc gồm 3 chương: 11 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về vốn và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Tổng Công ty cổ phần Phân bón và Hóa chất Dầu khí. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Tổng Công ty cổ phần Phân bón và Hóa chất Dầu khí. 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Tổng quan về vốn của doanh nghiệp 1. Khái niệm Theo Kinh tế chính trị Mác – Lê Nin, tiền là sản vật cuối cùng của lưu thông hàng hóa, đồng thời cũng là hình thức biểu hiện đầu tiên của tư bản (vốn). Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiện dưới hình thái một số tiền nhất định. Nhưng bản thân tiền không phải là tư bản.
Tiền chỉ biến thành tư bản trong những điều kiện nhất định, khi chúng được sử dụng để bóc lột lao động của người khác.Mác gọi công thức: T – H – T’ là công thức chung của tư bản. Trong đó: T’= T+T với T là giá trị thặng dư số tiền trội hơn số tiền ứng ra) (2, tr.83) Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, vốn được xem xét dưới góc độ là một yếu tố đầu vào của một quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục trong suốt thời gian tồn tại của một doanh nghiệp, thậm chí ngay cả khi doanh nghiệp không còn tồn tại thì vốn của nó lại được luân chuyển vào các quá trình sản xuất kinh doanh khác. Theo quan điểm này, vốn của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Quan điểm này kế thừa các quan điểm trước về vốn.
Quan điểm này chỉ rõ, vốn là giá trị ứng ra để bỏ vào hoạt động sản xuất kinh doanh, hình thành lên các tài sản của doanh nghiệp, hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng phải có vốn, vốn có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi các nhà quản trị phải có nhận thức đúng đắn về vốn cũng như các đặc 13 trưng cơ bản của vốn. Đó là tiền để cho việc quản lý, sử dụng vốn có hiệu quả. Đặc trưng của vốn Một là, vốn được thể hiện bằng giá trị của các tài sản (bao gồm cả tài sản vô hình và hữu hình như: nhà xưởng, bất động sản, máy móc, dụng cụ quản lý, bản quyền, bằng sáng chế… Hai là, vốn đưa vào sản xuất kinh doanh là nhằm mục tiêu sinh lời.
Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị- là tiền). Nếu lượng vốn thu về lớn hơn lượng vốn bỏ ra ban đầu thì kinh doanh có hiệu quả, có lãi. Mặt khác, tiền có vận động nhưng kết quả đem về là lượng tiền có giá trị nhỏ hơn thì kinh doanh coi như không hiệu quả, gây ảnh hưởng đến chu kì sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp Ba là, vốn và chủ sở hữu vốn không tách riêng rẽ trong quá trình vận động, mỗi đồng vốn phải gắn với một chủ sở hữu nhất định. Đồng vốn không rõ ràng về chủ sở hữu sẽ dẫn đến hoạt động kinh doanh không hiệu quả.
Thật vậy, khi không xác định rõ vốn thuộc về ai tức là trách nhiệm về hiệu quả của vốn cũng sẽ không được một đại diện nào quản lý. Vì vậy, vốn gắn liền với chủ sở hữu sẽ nâng cao trách nhiệm và hiệu quả sử dụng vốn lên mức tối đa. Bốn là, vốn có giá trị về mặt thời gian. Một đồng vốn bỏ ra ở hiện tại sẽ có giá trị cao hơn hoặc thấp hơn trong tương lai.
Do sự biến động của giá cả và tình trạng lạm phát nên giá trị đồng tiền ở mỗi thời kì là khác nhau. Đối với nhà quản lý, đặc trưng này là rất quan trọng trong việc ước lượng và dự báo giá trị thực của đồng tiền bỏ ra khi tiến hành đầu tư hoặc sản xuất kinh doanh. Năm là, vốn phải được tập trung tích tụ đến một lượng nhất định mới có thể phát huy được tác dụng. Đối với doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu hay 14 vốn tự có của mình là rất quan trọng.
Tuy nhiên, có những lúc hoạt động kinh doanh cần được mở rộng quy mô, tăng cường đầu tư trang thiết bị, tài sản cố định…mà lượng vốn chủ sở hữu lại quá ít. hi đó, ngoài nguồn vốn trên, vốn thu hút được từ các nguồn khác bên ngoài như trái phiếu, cổ phiếu cũng là những nguồn bổ sung rất quan trọng. Nhờ có lượng vốn được huy động thêm mà công ty sẽ có đủ năng lực tài chính để mở rộng sản xuất, phát triển thêm nhiều lĩnh vực một cách bền vững, đem lại hiệu quả cho hoạt động kinh doanh. Sáu là, vốn được coi là một loại hàng hoá đặc biệt trong nền kinh tế thị trường ngày nay.
Đầu tiên, vốn được coi là một loại hàng hóa vì nó có cả giá trị sử dụng và giá trị. Không những là hàng hóa, vốn còn là một loại hàng hóa đặc biệt bởi lẽ quyền sở hữu và quyền sử dụng có thể tách rời nhau, tức là vốn có thể được đem ra mua bán lấy quyền sử dụng trên thị trường. Hoạt động mua bán này diễn ra trên thị trường tài chính (thị trường vốn) và giá trị của nó được quyết định bởi quan hệ cung - cầu vốn trên thị trường. Những đặc trưng trên cho thấy rằng vốn được sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh với mục đích tích luỹ chứ không phải là mục đích tiêu d ng như một số quỹ tiền tệ khác trong doanh nghiệp.
Vốn được ứng ra trước để mua sắm trang thiết bị, đầu tư cơ sở hạ tầng, mua nguyên vật liệu…khi hoạt động sản xuất kinh doanh được bắt đầu. Khi kết thúc một chu k hoạt động, vốn phải được thu về để sử dụng tiếp cho các chu k hoạt động trong tương lai. Như vậy, ta thấy rằng các khái niệm về vốn và các đặc trưng của nó cần phải được nhận thức một cách đúng đắn và phù hợp. Đó là cơ sở quan trọng cho việc hoạch định chính sách và cơ chế, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho các doanh nghiệp.
Phân loại vốn của doanh nghiệp Vốn của doanh nghiệp có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau tùy thuộc vào góc độ xem xét và mục đích nghiên cứu. Mỗi loại khác nhau sẽ cho thấy hình thái vận động của vốn, đặc tính của vốn để sử dụng vốn có hiệu quả. Vì thế, khi phân tích về vốn cần phải lựa chọn đúng tiêu thức phân loại nhằm nâng cao chất lượng của các kết quả phân tích đó. Để phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, người ta thường phân loại vốn theo đặc điểm luân chuyển, tức là phân chia vốn thành hai loại là vốn cố định và vốn lưu động, đồng thời kết hợp với các tiêu thức khác nhau để xem xét vốn dưới nhiều góc độ hơn.
Phân loại theo nguồn hình thành vốn a) Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp ban đầu và bổ sung thêm trong quá trình kinh doanh (vốn đầu tư của chủ sở hữu). Ngoài ra thuộc vốn chủ sở hữu còn một số khoản khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như: chênh lệch tỉ giá hối đoái, chênh lệch đánh giá lại tài sản, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, các quỹ của doanh nghiệp… Vốn chủ sở hữu không phải là các khoản nợ nên doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán. Bao gồm: Thứ nhất, vốn góp ban đầu Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải có một số vốn ban đầu nhất định do các cổ đông – chủ sở hữu góp. Khi nói đến nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao giờ cũng phải xem xét hình thức sở hữu của doanh nghiệp đó, vì hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của bản thân doanh nghiệp.
Thứ hai, nguồn vốn từ lợi nhuận không chia 16 Quy mô số vốn ban đầu của chủ doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng, tuy nhiên, thông thường, số vốn này cần được tăng theo quy mô phát triển của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất – kinh doanh, nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi để tăng trưởng nguồn vốn. Nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi nhuận được sử dụng tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thứ ba, các nguồn vốn khác của chủ sở hữu Tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu mới, chênh lệch tỉ giá, các quỹ tài chính, quỹ đầu tư phát triển, quỹ hỗ trợ doanh nghiệp….Nguồn vốn này thường chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn chủ sở hữu nhưng cũng là một yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp có năng lực tài chính đảm bảo, bền vững để đầu tư vào hoạt động kinh doanh. b) Nợ phải trả Khác với vốn chủ sở hữu, nợ phải trả phản ánh số vốn mà doanh nghiệp đi chiếm dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh; do vậy doanh nghiệp phải cam kết thanh toán và có trách nhiệm thanh toán.
Nợ phải trả cũng bao gồm nhiều loại khác nhau, được phân theo nhiều cách; trong đó phân theo thời hạn thanh toán được áp dụng phổ biến. Theo cách này, toàn bộ nợ phải trả của doanh nghiệp được chia thành nợ phải trả ngắn hạn (là các khoản nợ mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm thanh toán trong vòng 1 năm hay 1 chu kì kinh doanh) và nợ phải trả dài hạn (là các khoản nợ mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm thanh toán trên 1 năm hay 1 chu kì kinh doanh. Nguồn vốn này có thể được huy động từ nhiều nguồn bên ngoài doanh nghiệp như: Một là, nguồn vốn tín dụng ngân hàng 17 Có thể nói rằng, vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất, không chỉ đối với sự phát triển của bản thân doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.