Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế "Tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Đoan Trang thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (năm 2018), chuyên ngành Kinh tế đầu tư (mã số: 62310105), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Phúc và GS.TS Nguyễn Đình Phan.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau 30 năm đổi mới kể từ năm 1986, nền kinh tế Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) hàng năm từ 5,1% đến 9,5% trong giai đoạn từ 1988 đến 2016; GDP bình quân đầu người theo sức mua tương đương (giá hiện hành) năm 2015 đạt 6.022,2 USD/người (đứng thứ 121 trên thế giới). Trong tiến trình này, đầu tư công giữ vai trò tạo nền tảng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội (khoảng 35%). Tuy nhiên, thực tiễn nảy sinh ba nhóm vấn đề:

  1. Nền kinh tế bộc lộ dấu hiệu chạm trần mô hình tăng trưởng dựa vào vốn, năng lực cạnh tranh thấp, chủ yếu thâm dụng lao động, giá trị gia tăng thấp và tốc độ tăng trưởng có xu hướng chậm lại.
  2. Đầu tư công chưa thể hiện rõ vai trò dẫn dắt, kích thích khu vực tư nhân phát triển tương xứng khi các doanh nghiệp dân doanh trong nước chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ.
  3. Các hiện tượng thất thoát, lãng phí và tham nhũng tại một số dự án đầu tư công làm dấy lên sự hoài nghi về hiệu quả thực tế của nguồn vốn nhà nước đối với tăng trưởng kinh tế.

Về mặt học thuật, các nghiên cứu quốc tế thường chỉ tập trung vào một khía cạnh riêng lẻ của đầu tư công. Tại Việt Nam, phần lớn các công trình trước đây chỉ mô tả thực trạng, đánh giá tác động cục bộ tới đầu tư tư nhân hoặc tiếp cận một chiều. Do đó, khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần một công trình đánh giá toàn diện, lượng hóa đồng thời các kênh tác động trực tiếp và gián tiếp của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế bằng hệ thống phương pháp kinh tế lượng tin cậy.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm ba nội dung:

  1. Tổng kết các cơ sở lý thuyết và mô hình thực nghiệm về đánh giá tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế;
  2. Đánh giá thực nghiệm tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam;
  3. Đề xuất các giải pháp nhằm phát huy tác động tích cực của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế.
  • Phạm vi không gian: Nền kinh tế Việt Nam ở cấp độ quốc gia và cấp độ địa phương (các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1995–2016 (sử dụng chuỗi số liệu theo quý từ quý I/2000 đến quý IV/2016 cho các mô hình kinh tế lượng; giai đoạn 2001–2015 cho tính toán mức đầu tư tối ưu). Mốc thời gian 1995 được lựa chọn do bắt đầu một chu kỳ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm mới và hệ thống dữ liệu thống kê của Việt Nam bắt đầu được hoàn thiện đồng bộ hơn.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và tổng thuật có hệ thống các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và tại Việt Nam theo hai hướng tiếp cận chính:

Hướng nghiên cứu phân tích tác động từ phía cầu

  • Tác động tới đầu tư tư nhân và tổng cầu: Easterly và Rebelo (1993) hồi quy dữ liệu cắt ngang 28 quốc gia, chỉ ra đầu tư công tác động tích cực tới tăng trưởng (hệ số 0,4) và đầu tư tư nhân (hệ số xấp xỉ 1). Ngược lại, Bairam và Ward (1993) khảo sát 25 quốc gia, Monadjemi (1993) nghiên cứu dữ liệu Australia và Mỹ, Kitaoka (2002) phân tích dữ liệu Nhật Bản đều ghi nhận hiện tượng đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân với hệ số âm có ý nghĩa thống kê. Xin Wang và Yi Wen (2013) sử dụng mô hình VAR cấu trúc tại Trung Quốc, xác định số nhân chi tiêu chính phủ tới GDP đạt từ 2,7 đến 5,6 ở cấp quốc gia và từ 2,8 đến 6,5 ở cấp tỉnh, số nhân đối với đầu tư tư nhân là 2,337. Tại Việt Nam, Tô Trung Thành (2011) ứng dụng mô hình VECM giai đoạn 1986–2010 kết luận 1% tăng vốn đầu tư tư nhân đóng góp 0,33% tăng trưởng GDP, trong khi 1% đầu tư công chỉ đóng góp 0,23% trong dài hạn, đồng thời 1% đầu tư công làm đầu tư tư nhân suy giảm 0,48% sau 10 năm.
  • Tác động tới cán cân thương mại: Agénor và cộng sự (2005) chứng minh việc mở rộng đầu tư công kích thích tổng cầu và giá cả nội địa, thúc đẩy nhập khẩu. Jan in 't Veld (2016) sử dụng mô hình QUEST mô phỏng cho khu vực Eurozone, xác định việc tăng đầu tư công thêm 1% GDP tại Đức và Hà Lan làm tài khoản vãng lai giảm lần lượt 0,2 và 0,3 điểm phần trăm.

Hướng nghiên cứu phân tích tác động từ phía cung

  • Tác động tới sản lượng qua hàm sản xuất: Aschauer (1989), Canning và Bennathan (2000), Albala-Bertrand và Mamatzakis (2004), Everaert và Heylen (2004), Charlot và Schmitt (1999) đưa vốn đầu tư công vào hàm Cobb-Douglas mở rộng. Demetriades và Mamuneas (2000) ước lượng dữ liệu mảng 12 nước OECD (1972–1991), ghi nhận độ co giãn ngắn hạn của sản lượng theo vốn công dao động từ 0,36 (Anh) đến 2,06 (Na Uy). Calderon và Serven (2002) dùng biến công cụ cho 101 quốc gia (1960–1997) xác định độ co giãn trung bình đạt 0,16. Calderón và Servén (2004b) chỉ ra cắt giảm hạ tầng làm suy giảm tăng trưởng dài hạn 3 điểm phần trăm/năm tại Argentina, Bolivia, Brazil và từ 1,5–2 điểm phần trăm/năm tại Chile, Mexico, Peru. Tại Việt Nam, Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế xã hội Quốc gia (2012) kết hợp ICOR, hàm sản xuất và VECM, phát hiện tác động của đầu tư công đạt cực đại vào năm thứ 5 rồi suy giảm dần.
  • Tác động tới năng suất lao động và TFP: Aschauer (1989b) phân tích 7 nước G7 (1966–1985), tính toán tỷ lệ đầu tư công tăng 1% giúp năng suất lao động tăng 0,4%/năm. Andreas Stephan (2003) tại 11 bang Tây Đức (1970–1996) và Ramirez (2009) tại Argentina (1960–2005) đều ghi nhận tác động dương của vốn công tới năng suất. Đối với năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), Hulten và Schwab (1984, 1991), Munnell (1990a), Khan và Kumar (1997) phân tích đóng góp của kết cấu hạ tầng. Eliana La Ferrara và Massimiliano Marcellino (2000) phân tích dữ liệu vùng tại Italia (1970–1994), kết luận hệ số co giãn của TFP theo vốn đầu tư công đạt 0,47 (ý nghĩa thống kê 5%).

Bảng tổng hợp các hướng nghiên cứu thực nghiệm tiêu biểu

Hướng tiếp cận Tác giả & Năm Phương pháp & Phạm vi Kết quả chính
Phía cầu (Hiệu ứng số nhân & Lấn át) Easterly & Rebelo (1993)
Tô Trung Thành (2011)
Xin Wang & Yi Wen (2013)
Hồi quy cắt ngang (28 nước)
VECM (Việt Nam 1986–2010)
SVAR (Trung Quốc)
Đầu tư công thúc đẩy tăng trưởng (0,4) và đầu tư tư nhân (~1).
1% vốn công làm tăng 0,23% GDP nhưng lấn át 0,48% tư nhân sau 1 thập kỷ.
Số nhân GDP từ 2,7–5,6; số nhân đầu tư tư nhân là 2,337.
Phía cung (Hàm sản xuất & Sản lượng) Aschauer (1989)
Calderon & Serven (2002)
Demetriades & Mamuneas (2000)
Hàm Cobb-Douglas (Mỹ)
Biến công cụ (101 quốc gia)
Mô hình dữ liệu mảng (12 nước OECD)
Vốn công là đầu vào sản xuất độc lập.
Độ co giãn sản lượng trung bình theo hạ tầng là 0,16.
Độ co giãn sản lượng dao động từ 0,36 (Anh) đến 2,06 (Na Uy).
Phía cung (Năng suất lao động & TFP) Aschauer (1989b)
Eliana La Ferrara & Marcellino (2000)
Chuỗi thời gian (G7 1966–1985)
Dữ liệu mảng theo vùng (Italia 1970–1994)
Đầu tư công tăng 1% làm tăng năng suất lao động 0,4%/năm.
Hệ số co giãn của TFP theo vốn đầu tư công đạt 0,47.

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Luận án kế thừa các mô hình kinh tế lượng chuẩn mực nhưng khắc phục tính đơn lẻ bằng cách:

  • Thiết lập khung phân tích tích hợp đồng thời 6 kênh truyền dẫn (3 kênh phía cầu và 3 kênh phía cung);
  • Lượng hóa thực nghiệm tác động đa chiều của đầu tư công tại Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế;
  • Xác định ngưỡng tỷ lệ đầu tư công/GDP tối ưu theo từng thời kỳ;
  • Đo lường thực nghiệm mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thể chế quản lý, nhu cầu và phân bổ vốn tới hiệu quả tác động của đầu tư công.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Bản chất và định nghĩa đầu tư công: Luận án so sánh 3 nhóm quan điểm: (1) Theo sở hữu vốn; (2) Theo tính chất lợi nhuận/phi lợi nhuận; (3) Theo mục đích đầu tư. Luận án lựa chọn quan điểm thứ ba: đầu tư công là các chương trình, dự án do Nhà nước chủ trì nhằm phục vụ lợi ích công cộng, không phân biệt nguồn vốn, qua đó bao hàm cả mô hình hợp tác công - tư (PPP) và xã hội hóa đầu tư. Đồng thời, do hạn chế dữ liệu thực tế tại Việt Nam, luận án sử dụng số liệu đầu tư công theo định danh của Luật Đầu tư công 2014 (vốn ngân sách nhà nước, công trái, trái phiếu, ODA, vốn vay ưu đãi, tín dụng đầu tư phát triển).
  • Lý thuyết hàng hóa công cộng: Phân định hàng hóa công cộng thuần túy (không cạnh tranh, không loại trừ) do Nhà nước đảm nhận hoàn toàn và hàng hóa công cộng không thuần túy (có thể áp dụng phí, lệ phí) để khuyến khích khu vực tư nhân cùng đầu tư.
  • Khung phân tích phía cầu (Trường phái Keynes): Dựa trên đồng hóa thức thu nhập quốc dân $GDP = C + G + I + NX$ (trong đó $G = G_I + G_C$). Đầu tư công ($G_I$) tác động trực tiếp làm tăng GDP và tác động gián tiếp thông qua hiệu ứng kích thích tiêu dùng cá nhân ($C$) và thúc đẩy đầu tư tư nhân ($I$).
  • Khung phân tích phía cung (Tân cổ điển và Tăng trưởng nội sinh): Dựa trên hàm sản xuất Cobb-Douglas mở rộng $GDP = f(K_G, K_P, L, TFP)$ (với $K_G$ là vốn công, $K_P$ là vốn tư nhân, $L$ là lao động, $TFP$ là năng suất nhân tố tổng hợp). Đầu tư công đóng góp trực tiếp vào giá trị gia tăng ngành kết cấu hạ tầng và gián tiếp thông qua cải thiện năng suất lao động và thúc đẩy tiến bộ công nghệ nội sinh ($TFP$).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp đồng bộ các phương pháp định tính và định lượng:

  • Phương pháp phân tích tổng hợp & Thống kê mô tả: Hệ thống hóa lý thuyết, mô tả các chỉ tiêu quy mô, cơ cấu, hệ số ICOR và các tác động phía cầu không thể lượng hóa trực tiếp bằng mô hình.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn các nhà khoa học, nhà quản lý về cơ cấu phân bổ vốn và thể chế quản lý đầu tư công.
  • Phương pháp điều tra khảo sát: Phỏng vấn cán bộ quản lý tại các Sở Kế hoạch và Đầu tư nhằm thu thập dữ liệu sơ cấp về thể chế và thực trạng thực thi tại địa phương.
  • Phương pháp kinh tế lượng định lượng:
    • Mô hình Véc tơ hiệu chỉnh sai số (VECM): Kiểm định tính dừng, kiểm định đồng tích hợp Johansen, phân tích quan hệ dài hạn, hàm phản ứng xung (impulse response functions) và phân rã phương sai (variance decomposition) giữa đầu tư công ($I_G$), đầu tư tư nhân ($I_{TN}$) và $GDP$.
    • Phương pháp hồi quy OLS: Ước lượng các hệ số co giãn tác động và xác định ngưỡng tỷ lệ đầu tư công/GDP tối ưu.
    • Phân tích nhân tố khám phá (EFA): Sử dụng phần mềm SPSS để trích xuất và đo lường các nhóm nhân tố thể chế tác động đến mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng từ dữ liệu khảo sát.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Tổng cục Thống kê (Niên giám thống kê), Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, niên giám thống kê các tỉnh, thành phố. Dữ liệu chuỗi thời gian cấp quốc gia thu thập từ 1995 đến 2016 (dữ liệu phân tích mô hình theo quý 2000QI–2016QIV theo giá so sánh 2010); dữ liệu mảng cấp tỉnh; dữ liệu sơ cấp từ phiếu điều tra khảo sát các Sở Kế hoạch và Đầu tư.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận chung về đầu tư công và tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về bản chất, phân loại (theo lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; theo tính chất có hoặc không có cấu phần xây dựng; theo quy mô dự án quan trọng quốc gia, nhóm A, B, C) và đặc điểm của đầu tư công. Luận án phân tích xu hướng biến động quốc tế: tỷ lệ đầu tư công/GDP tại các nền kinh tế phát triển giảm từ 4–5% trong thập niên 1970 xuống 2–3% hiện nay; các nền kinh tế đang nổi và đang phát triển thu nhập thấp duy trì ở mức 6–7% GDP. Tại Việt Nam, quá trình này trải qua 3 giai đoạn: trước năm 1986 (Nhà nước đảm nhận 100%), giai đoạn 1986–2014 (bắt đầu có sự tham gia của tư nhân nhưng hạn chế), và từ sau 2014 (đẩy mạnh hoàn thiện thể chế PPP nhằm giảm tải áp lực ngân sách). Chương này xây dựng hoàn chỉnh khung lý thuyết gồm 6 kênh tác động (3 kênh phía cầu, 3 kênh phía cung) và phân tích 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng: cơ chế chính sách, hiệu quả vi mô của dự án (NPV, IRR), phân bổ vốn, nhu cầu vốn và mức độ xã hội hóa đầu tư.

Chương 2: Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 tổng kết chi tiết các công trình nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước theo từng kênh truyền dẫn phía cầu, phía cung và mô hình đa quốc gia. Trên cơ sở đó, tác giả thiết lập phương pháp luận nghiên cứu kết hợp giữa điều tra khảo sát thực địa và các mô hình kinh tế lượng chuyên sâu. Chương này chỉ định cấu trúc các phương trình hồi quy, quy trình kiểm định nghiệm đơn vị (kiểm định tính dừng), kiểm định đồng tích hợp, thiết lập mô hình VECM đánh giá tương tác động giữa đầu tư công - đầu tư tư nhân - tăng trưởng kinh tế, mô hình xác định mức đầu tư công tối ưu và phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA xử lý dữ liệu điều tra.

Chương 3: Thực trạng đầu tư công và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

Chương 3 phân tích thực trạng tăng trưởng GDP, chuyển dịch cơ cấu ngành và bức tranh đầu tư công tại Việt Nam giai đoạn 1995–2016. Các phát hiện và số liệu chủ yếu gồm:

  • Tăng trưởng kinh tế duy trì tốc độ khá nhưng có xu hướng chậm dần qua các kỳ kế hoạch 5 năm; cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực nhà nước (chiếm khoảng 35%).
  • Cơ cấu vốn đầu tư công tập trung phần lớn vào kết cấu hạ tầng kỹ thuật (giao thông vận tải, năng lượng, thủy lợi), trong đó nguồn hình thành chủ yếu từ ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu chính phủ và vốn vay ODA.
  • Hiệu quả sử dụng vốn thể hiện qua hệ số ICOR (tính theo giá so sánh 2010): hệ số ICOR của khu vực kinh tế nhà nước luôn ở mức cao hơn đáng kể so với khu vực kinh tế ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), phản ánh tình trạng phân bổ vốn dàn trải và hiệu quả vi mô thấp.
  • Công tác quản lý nhà nước bộc lộ hạn chế trong phân cấp ngân sách, quy trình lập - phê duyệt dự án và giám sát thực thi, dẫn đến nợ đọng xây dựng cơ bản và chậm tiến độ giải ngân.

Chương 4: Tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Chương 4 trình bày kết quả ước lượng thực nghiệm các mô hình kinh tế lượng:

  • Ước lượng tác động tổng thể (VECM): Kiểm định chuỗi số liệu quý giai đoạn 2000QI–2016QIV xác nhận các chuỗi $GDP$, đầu tư công ($I_G$) và đầu tư tư nhân ($I_{TN}$) đều dừng ở sai phân bậc nhất $I(1)$ và tồn tại quan hệ đồng tích hợp dài hạn. Kết quả ước lượng khẳng định đầu tư công có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Tuy nhiên, phân tích phản ứng xung và phân rã phương sai cho thấy đầu tư công có hiện tượng lấn át đầu tư tư nhân trong một số giai đoạn nhất định.
  • Tác động phía cung: Ước lượng hồi quy xác nhận vốn đầu tư công có tác động thúc đẩy năng suất lao động xã hội, đặc biệt thông qua các dự án kết cấu hạ tầng giao thông và năng lượng.
  • Mức đầu tư công tối ưu: Luận án tính toán định lượng tỷ lệ đầu tư công/GDP tối ưu cho Việt Nam giai đoạn 2001–2015. Kết quả chỉ ra trong nhiều năm của giai đoạn nghiên cứu, tỷ lệ đầu tư công thực tế của Việt Nam đã vượt qua ngưỡng tối ưu, làm suy giảm hiệu quả biên của vốn đầu tư và tạo áp lực nợ công.
  • Xác định các nhân tố ảnh hưởng (EFA & Hồi quy): Dữ liệu khảo sát từ các Sở Kế hoạch và Đầu tư sau khi phân tích EFA và hồi quy đa biến đã xác định 3 nhân tố có tác động mang ý nghĩa thống kê tới mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế: (1) Quản lý đầu tư công (hệ số tác động lớn nhất); (2) Nhu cầu vốn đầu tư công (hệ số lớn thứ hai); (3) Phân bổ vốn đầu tư công (hệ số lớn thứ ba). Nhân tố Xã hội hóa nguồn vốn đầu tư chưa thể hiện tác động có ý nghĩa thống kê trong mẫu khảo sát.

Chương 5: Tóm tắt kết quả nghiên cứu và kiến nghị chính sách

Chương 5 đúc kết các phát hiện thực nghiệm và đề xuất các nhóm khuyến nghị chính sách:

  • Hoàn thiện thể chế quản lý đầu tư công theo hướng tuân thủ nghiêm ngặt Luật Đầu tư công 2014, tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.
  • Đổi mới công tác lập kế hoạch và phân bổ vốn đầu tư công trung hạn, tập trung nguồn lực cho các dự án kết cấu hạ tầng trọng điểm quốc gia có tính kết nối liên vùng, chấm dứt tình trạng đầu tư dàn trải, cắt khúc.
  • Kiểm soát trần nợ công và an toàn tài khóa, cân đối chặt chẽ giữa nhu cầu vay nợ tài trợ đầu tư công với khả năng trả nợ của nền kinh tế nhằm duy trì ổn định vĩ mô.
  • Hoàn thiện cơ chế khuyến khích và chia sẻ rủi ro trong mô hình đối tác công - tư (PPP) nhằm huy động hiệu quả nguồn vốn tư nhân tham gia phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và học thuật

  • Hệ thống hóa và chuẩn hóa nội hàm khái niệm đầu tư công theo hướng tiếp cận mục đích đầu tư, phân định rõ ràng giữa tiêu chí sở hữu vốn và mục tiêu cung cấp hàng hóa công cộng, tạo cơ sở lý thuyết mở cho việc thu hút nguồn lực tư nhân thông qua PPP.
  • Xây dựng khung lý thuyết toàn diện bao gồm cả 6 kênh truyền dẫn cung - cầu và tổng hợp hệ thống nghiên cứu thực nghiệm quốc tế và trong nước về tác động của đầu tư công.

Đóng góp mới rút ra từ kết quả nghiên cứu

  • Lượng hóa thực nghiệm tác động của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1995–2016, khẳng định đầu tư công có tác động tích cực đến tăng trưởng GDP cả trực tiếp và gián tiếp.
  • Xác định và lượng hóa ngưỡng tỷ lệ đầu tư công/GDP tối ưu cho Việt Nam theo từng năm và từng giai đoạn trong thời kỳ 2001–2015, cung cấp bằng chứng thực nghiệm về việc quy mô đầu tư công thực tế từng vượt ngưỡng tối ưu.
  • Chứng minh thực nghiệm rằng việc tăng cường vay nợ quá mức để tài trợ cho các dự án đầu tư công trong điều kiện hiệu quả quản lý và hiệu quả dự án thấp đã dẫn đến các bất ổn kinh tế vĩ mô, làm gia tăng gánh nặng nợ công và kìm hãm tiềm năng tăng trưởng tương lai.
  • Lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các nhân tố thể chế tới mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam theo thứ tự: Quản lý đầu tư công (ảnh hưởng mạnh nhất), tiếp theo là Nhu cầu vốn đầu tư công, và Phân bổ vốn đầu tư công; đồng thời ghi nhận chưa có đủ bằng chứng thống kê về tác động của nhân tố xã hội hóa vốn đầu tư trong mẫu nghiên cứu.
  • Chỉ ra rằng do nhu cầu vốn đầu tư cơ sở hạ tầng của Việt Nam trong giai đoạn phát triển còn rất lớn nên đầu tư công vẫn mang lại đóng góp tích cực cho tăng trưởng, bất chấp hiệu quả quản lý đầu tư công còn nhiều hạn chế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án tự xác định các hạn chế nghiên cứu cụ thể:

  • Hạn chế về phạm vi lượng hóa kênh tác động: Do rào cản về dữ liệu thống kê và nguồn lực tính toán, luận án chỉ lượng hóa được 4 trên 6 kênh tác động nêu trong khung lý thuyết.
  • Kênh cán cân thương mại: Chưa thể lượng hóa do đòi hỏi phải xây dựng mô hình cân bằng tổng thể đa quốc gia hoặc hệ thống mô hình kinh tế lượng vĩ mô cấu trúc phức tạp, vượt quá giới hạn nguồn lực của đề tài.
  • Kênh năng suất nhân tố tổng hợp (TFP): Không thực hiện được việc lượng hóa chuyên sâu do thiếu hụt chuỗi số liệu thống kê chuẩn xác về tích lũy vốn đầu tư công và việc tính toán vốn tích lũy theo cấp tỉnh để ước lượng TFP có độ phức tạp cao, độ tin cậy chưa đảm bảo.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng thu thập dữ liệu tích lũy vốn công cấp địa phương và ứng dụng mô hình cân bằng tổng thể để lượng hóa trọn vẹn kênh truyền dẫn qua cán cân thương mại và TFP.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Tham khảo khung phân tích tích hợp cung - cầu, quy trình tổng quan tài liệu học thuật quốc tế và phương pháp ứng dụng các mô hình kinh tế lượng chuỗi thời gian (VECM, kiểm định đồng tích hợp, hàm phản ứng xung), mô hình ước lượng ngưỡng tối ưu và kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá (EFA).
  • Nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư các địa phương): Sử dụng các kết quả ước lượng về ngưỡng đầu tư công tối ưu, hệ số ICOR và thứ tự tác động của các nhân tố thể chế (quản lý, phân bổ, nhu cầu) làm cơ sở xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn, thẩm định danh mục dự án ưu tiên và hoàn thiện cơ chế kiểm soát nợ công.
  • Các phần nội dung giá trị nhất: Khung lý thuyết 6 kênh tác động tại Chương 1; phương pháp luận và tổng thuật thực nghiệm tại Chương 2; các kết quả ước lượng mô hình VECM, năng suất lao động và ngưỡng đầu tư tối ưu tại Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn tiếp cận khái niệm đầu tư công theo quan điểm nào?

Luận án phân tích 3 quan điểm (theo sở hữu vốn, theo tính phi lợi nhuận, theo mục đích đầu tư) và lựa chọn quan điểm thứ ba làm cơ sở lý thuyết: đầu tư công là các chương trình, dự án do Nhà nước chủ trì nhằm phục vụ lợi ích công cộng, không phân biệt nguồn vốn. Tuy nhiên, trong phân tích thực nghiệm do giới hạn dữ liệu thống kê, luận án sử dụng số liệu đầu tư công theo quy định của Luật Đầu tư công 2014 (gồm vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu, vốn ODA, vốn vay ưu đãi và tín dụng đầu tư phát triển).

2. Các nhân tố nào tác động mạnh nhất đến mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam?

Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy từ dữ liệu điều tra các Sở Kế hoạch và Đầu tư xác định 3 nhân tố có tác động mang ý nghĩa thống kê theo thứ tự mức độ giảm dần: (1) Quản lý đầu tư công (tác động lớn nhất); (2) Nhu cầu vốn đầu tư công (thứ hai); (3) Phân bổ vốn đầu tư công (thứ ba). Nhân tố Xã hội hóa nguồn vốn đầu tư chưa có bằng chứng tác động rõ ràng trong mô hình.

3. Vì sao luận án chỉ lượng hóa được 4 trong số 6 kênh tác động trong khung lý thuyết?

Do hạn chế về dữ liệu và nguồn lực. Kênh tác động tới cán cân thương mại đòi hỏi mô hình cân bằng tổng thể đa quốc gia hoặc mô hình kinh tế lượng vĩ mô cấu trúc lớn; kênh tác động tới năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) gặp khó khăn do thiếu chuỗi số liệu tích lũy vốn đầu tư công và việc tính toán tích lũy vốn cấp tỉnh có độ tin cậy thấp.

4. Mô hình kinh tế lượng nào được sử dụng để phân tích quan hệ động giữa đầu tư công, đầu tư tư nhân và GDP?

Luận án sử dụng Mô hình Véc tơ hiệu chỉnh sai số (VECM) với chuỗi số liệu theo quý giai đoạn 2000QI–2016QIV để phân tích mối quan hệ đồng tích hợp dài hạn, ước lượng các hàm phản ứng xung nhằm kiểm tra tác động lan tỏa hoặc lấn át giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân, kết hợp phân rã phương sai sai số dự báo.

5. Luận án rút ra kết luận gì về việc vay nợ tài trợ đầu tư công tại Việt Nam?

Luận án chỉ ra rằng việc gia tăng vay nợ quá mức để tài trợ cho các dự án đầu tư công trong điều kiện hiệu quả quản lý và hiệu quả dự án vi mô còn thấp đã gây ra các bất ổn kinh tế vĩ mô, làm tăng áp lực nợ công và hạn chế không gian tăng trưởng kinh tế trong tương lai.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đoan Trang đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực nghiệm về tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế theo cả hai hướng tiếp cận cung và cầu. Thông qua việc kết hợp các mô hình kinh tế lượng (VECM, OLS, EFA) trên chuỗi dữ liệu giai đoạn 1995–2016, luận án đã lượng hóa thành công tác động tích cực của đầu tư công, xác định ngưỡng đầu tư công tối ưu và xếp hạng các nhân tố thể chế chi phối hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam. Công trình cung cấp các luận cứ khoa học thực chứng phục vụ công tác tái cơ cấu đầu tư công, kiểm soát nợ công và hoàn thiện chính sách phát triển kết cấu hạ tầng trong bối cảnh đổi mới mô hình tăng trưởng.