chương 1, luận văn chuyển sang đi sâu vào việc nghiên cứu, hệ 6 thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản, các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới cũng như ở Việt Nam. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Cấu trúc vốn Cấu trúc vốn đề cập đến nguồn tài trợ thường xuyên để doanh nghiệp có thể an tâm sử dụng trong thời gian tương đối dài nên cấu trúc vốn bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và nợ trung dài hạn (Parmasivan & Subramanian, 2009). Quyết định cấu trúc vốn là sự pha trộn giữa nợ và vốn chủ sở hữu mà một công ty sử dụng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh (Damodaran, 2001). Quyết định cấu trúc vốn là một trong những vấn đề thách thức nhất trong kinh doanh và do đó, đây là một quyết định quan trọng nhất mà các công ty phải thực hiện để tồn tại (Royal và cộng sự, 2013).
Một công ty có thể tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình bằng chỉ vốn chủ sở hữu, chỉ nợ hoặc hỗn hợp cả hai. Mỗi công ty có một cấu trúc vốn phù hợp với đặc trưng ngành và các nhà quản trị luôn hướng đến một cấu trúc vốn tối ưu mà tại đó chi phí sử dụng vốn là thấp nhất và giá trị doanh nghiệp đạt tối đa. Parmasivan & Subramanian (2009) khẳng định cấu trúc vốn tối ưu là một kết hợp giữa nợ và vốn cổ phần sao cho giá trị doanh nghiệp đạt tối đa. Nghĩa là, với một cấu trúc vốn tối ưu thì chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp là thấp nhất và giá trị doanh nghiệp đạt cực đại nên xác định được cấu trúc vốn tối ưu sẽ giúp doanh nghiệp gia tăng hiệu quả hoạt động.
Ngoài ra, cấu trúc vốn còn ảnh hưởng đến rủi ro kinh doanh mà chính doanh nghiệp có thể sẽ gặp phải. Harris & Raviv (1991) lập luận rằng cấu trúc vốn có liên quan đến sự đánh đổi giữa chi phí kiệt quệ tài chính và lợi ích từ tấm chắn thuế cho cả cổ đông và nhà quản lý. Vì thế các công ty có thể có nhiều nợ trong cấu trúc vốn khi mang lại lợi ích cho cả hai bên cổ đông và nhà quản lý. Zeitun & Tian (2007) phát biểu rằng do tồn tại chi 7 phí kiệt quệ tài chính nên việc sử dụng quá nhiều nợ sẽ làm suy giảm hiệu quả hoạt động.
Vay ngân hàng, cho thuê tài chính, trái phiếu và các loại nợ khác có thể được kết hợp với vốn chủ sở hữu để tăng giá trị thị trường của doanh nghiệp và cũng có được lợi ích từ lá chắn thuế đối với khoản nợ (Mahira, 2011). Các chỉ tiêu đo lường cấu trúc vốn thường được sử dụng là tỷ số nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu, tỷ số nợ dài hạn trên tổng tài sản, tỷ số nợ ngắn hạn trên tổng tài sản, tỷ số tổng nợ trên vốn chủ sở hữu, tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản, tỷ số vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản. Trong nghiên cứu này, tác giả lựa chọn tỷ số nợ dài hạn trên tổng tài sản (LDTA) và tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản (TDTA) làm hai biến đo lường cấu trúc vốn (Abor, 2005, Zeitun & Tian, 2007, Dadson & Jamil, 2012, Shubita & Alsawalhah, 2012, Hasan và cộng sự, 2014). Công thức tính các biến đo lường cấu trúc vốn: LDTA Nợ dài hạn Tổng tài = sản Tổng nợ TDTA Tổng tài sản = 2.2 Các lý thuyết cấu trúc vốn Một trong những yếu tố chính có thể ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty là cấu trúc vốn.
Có rất nhiều lý thuyết về cấu trúc vốn được nêu ra trong lịch sử theo trình tự thời gian, tiên phong là lý thuyết Modilligani và Miller (1958) ứng dụng trong thị trường vốn hoàn hảo và không có chi phí thuế. Sau đó, lý thuyết M&M (1963) ra đời ứng dụng trong thị trường vốn hoàn hảo nhưng có sự tồn tại của chi phí thuế. Tiếp đến, những lý thuyết khác được đề xuất với giả định đáng tin cậy hơn trong sự không hoàn hảo của thị trường hay tình trạng thông tin bất cân xứng như lý thuyết đánh đổi (Myers, 1977), lý thuyết trật tự phân hạng (Myers & Majluf, 1984), lý thuyết định thời điểm thị trường (Baker & Wurgler, 2002).1 Lý thuyết cấu trúc vốn của Modilligani và Miller Năm 1958, Modilligani và Miller lần đầu tiên đề cập đến mối quan hệ giữa cấu trúc vốn, chi phí sử dụng vốn và giá trị doanh nghiệp. Lý thuyết M&M lập luận rằng cấu trúc vốn là không liên quan trong việc xác định giá trị của công ty dựa trên các giả định thị trường cạnh tranh hoàn hảo trong đó không có thuế, kỳ vọng của nhà đầu tư là đồng nhất và không có chi phí giao dịch.
Đến năm 1963, Modilligani và Miller đã đưa ra thêm một nghiên cứu về cấu trúc vốn trong môi trường tồn tại thuế với kết luận rằng việc vay nợ càng nhiều sẽ làm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp do lãi vay được khấu trừ khi tính thuế thu nhập, nghĩa là một phần thu nhập của doanh nghiệp vay nợ sẽ chuyển cho nhà đầu tư theo công thức: VL= VU + T*D Trong đó, VL là giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ, V U là giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ, D là tổng số nợ sử dụng, T là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, T*D là hiện giá lá chắn thuế từ lãi vay. Như vậy theo mô hình M&M (1963) cấu trúc vốn có liên quan đến giá trị của doanh nghiệp. Giá trị của doanh nghiệp sẽ đạt tối đa khi doanh nghiệp có 100% vốn vay. Giá trị doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản lợi ích hay thu nhập mà doanh nghiệp có thể thu được trong tương lai.
Thông thường, giá trị doanh nghiệp được xác định dựa trên giá trị sổ sách và giá trị trường, doanh nghiệp có giá trị cao khi có hiệu quả hoạt động kinh doanh tốt. Giá trị doanh nghiệp được sử dụng làm cơ sở cho nhiều tỷ số tài chính đo lường hiệu quả hoạt động của một công ty (Trần Ngọc Thơ và cộng sự, 2003). Theo nghiên cứu của Sudiyatno và cộng sự (2012), Ibrahim Al (2017) cho kết quả rằng tồn tại mối quan hệ đồng biến và rất chắc chắn giữa hiệu quả hoạt động và giá trị doanh nghiệp.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) Thông tin bất cân xứng là mức độ thông tin không phản ánh kịp thời, chính xác, đầy đủ về thị trường và diễn biến của nó. Theo nghĩa hẹp nó hàm ý có sự khác biệt đáng 9 kể về khối lượng và chất lượng thông tin đã được tích lũy đến thời điểm xác định giữa các đối tượng liên quan (các đối tượng cùng giải quyết một vấn đề, cùng tham gia một thị trường).
Nghĩa là, một bên giao dịch có các thông tin liên quan trong khi bên kia không có hoặc có không đầy đủ. Thông tin bất cân xứng xảy ra do nguồn thông tin khác nhau, thời điểm nhận tin khác nhau và trình độ nhận thức, ứng xử với thông tin khác nhau. Nguyên nhân là do những hạn chế của thị trường làm cho tốc độ truyền tin chậm, khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin kém. Ngược lại, thông tin bất cân xứng là nguyên nhân dẫn đến thị trường kém hiệu quả.
Thông tin bất cân xứng vừa là khách quan, vừa là chủ quan. Tính khách quan là do cấp độ hiệu quả của thị trường gây ra những hạn chế về truyền tải và cập nhật thông tin vào trong giá cả. Tính chủ quan là do sự thiếu nổ lực cũng như chưa quan tâm đầu tư, tìm kiếm khai thác thông tin của các đối tượng là cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp tham gia thị trường. Khi ra quyết định tài trợ, nhà quản trị sẽ xác định một cấu trúc vốn tối ưu tương ứng với rủi ro và suất sinh lời đòi hỏi.
Thị trường với thông tin bất cân xứng khiến cho nhà đầu tư đánh giá không đúng rủi ro nên yêu cầu suất sinh lợi mong đợi cao hơn, Nhà quản trị ở vào thế bị động phải chấp nhận nguồn tài trợ nhiều rủi ro dẫn đến chi phí tài trợ tăng. Thông tin bất cân xứng còn tác động đến việc lựa chọn giữa tài trợ nội bộ và tài trợ bên ngoài, giữa phát hành mới chứng khoán nợ và chứng khoán vốn cổ phần. Điều này đưa tới một trật tự phân hạng, theo đó đầu tư sẽ được tài trợ trước tiên bằng vốn nội bộ, chủ yếu là lợi nhuận tái đầu tư rồi đến phát hành chứng khoán nợ và cuối cùng là phát hành vốn cổ phần mới. Tính linh hoạt trong lựa chọn nguồn tài trợ của doanh nghiệp bị giảm.3 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Trade off theory) Lý thuyết cấu trúc vốn của M&M được xây dựng dựa trên giả định thị trường hoạt động hoàn hảo nhưng thất bại dưới sự không hoàn hảo trong tình hình thế giới thực, do đó Myers (1977) đã đề xuất lý thuyết đánh đổi nhấn mạnh sự đánh đổi giữa tiết kiệm thuế phát sinh từ nợ và gia tăng chi phí kiệt quệ tài chính.
Lý thuyết đánh đổi nhấn mạnh rằng lợi ích của lá chắn thuế sẽ bị tiêu giảm bởi chi phí phá sản khi công 1 ty gặp khó khăn tài chính và chi phí đại diện (Ahmad & Abdul Rahim, 2013; Danso & Adomako, 2014; Mostafa & Boregowda, 2014). Trong khi, Sheikh & Wang (2010) tuyên bố rằng lý thuyết đánh đổi dự kiến sẽ chọn một cấu trúc vốn với mục tiêu tối đa hóa giá trị công ty bằng cách giảm thiểu các chi phí của sự không hoàn hảo của thị trường hiện hành. Lý thuyết này cũng được gọi là lý thuyết dựa trên chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp và chi phí phá sản, giả định rằng mỗi nguồn tiền có chi phí và lợi nhuận của chính nó và đây là những yếu tố liên quan đến tiềm năng nguồn lực và rủi ro kiệt quệ tài chính (Awan & Amin, 2014). Do đó, công ty được tài trợ nhiều bằng nợ sẽ được giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp cho hoạt động kinh doanh nhưng đồng thời cũng gia tăng áp lực chi phí kiệt quệ tài chính nên lợi ích từ lá chắn thuế được cân bằng (Chen, 2011).
Hiểu một cách đơn giản lý thuyết này nói về sự đánh đổi giữa việc sử dụng vốn vay và vốn cổ phần (quyết định tỉ lệ vốn chủ sở hữu và vốn vay), với mỗi phần trăm vốn vay tăng thêm thì chi phí kiệt quệ tài chính cũng tăng.