chương 1 trình bày về lý do, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Chương 2 trình bày tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước, khung phân tích về tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân và tăng trưởng kinh tế. Chương 3 trình bày mô hình nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu, xây dựng các mô hình hồi quy thực nghiệm. Chương 4, tác giả phân tích tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân và tăng trưởng kinh tế Vùng KTTĐPN.
Chương 5, tác giả trình bày 3 tóm tắt kết quả nghiên cứu và đưa ra các gợi ý chính sách, đồng thời cũng đưa ra những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 4 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương 2 sẽ trình bày các khái niệm về tăng trưởng kinh tế, đầu tư, mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế; các lý thuyết, mô hình về tăng trưởng kinh tế và kết quả nghiên cứu trước của các tác giả có liên quan đến nội dung của đề tài. Trên cơ sở này, đề tài xây dựng khung phân tích về tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân và tăng trưởng kinh tế.Tăng trưởng kinh tế Theo Simon Kuznets (1954 ), tăng trưởng là sự gia tăng một cách bền vững về sản lượng bình quân đầu người hay sản lượng trên mỗi công nhân. Theo Nguyễn Trọng Hoài (2007), tăng trưởng kinh tế là một quá trình thay đ ổi tạo ra sản lượng thực bình quân đ ầu người cao hơn, mặt khác tăng trưởng kinh tế cũng tạo ra sự thay đổi về cơ cấu sản xuất và tiêu dùng, cả về số lượng và chất lượng.
Như vậy, tăng trưởng kinh tế có thể hiểu là sự tăng lên về qui mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm). Tăng trưởng kinh tế được xác định bằng cách so sánh qui mô sản lượng giữa các thời kỳ. Có 2 cách so sánh tuyệt đối và tương đối: + Mức tăng tuyệt đối: ∆ y = Yt - Yo Yt: sản lượng của năm t Yo: sản lượng của năm so sánh (năm gốc) Mức tăng tuyệt đối phản ánh mức độ tăng về qui mô sản lượng Yt − Yo + Mức tăng tương đối: gy = Yo gy : phản ánh tốc độ tăng trưởng của sản lượng. 5 Trong kinh tế vĩ mô, Y là tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản phẩm quốc dân (GNP).
* Về chất lượng tăng trưởng kinh tế: Theo Nguyễn Trọng Hòai (2013), chất lượng tăng trưởng bao gồm tăng trưởng kinh tế, phát triển và phát triển bền vững, liên quan đến 3 thành tố: kinh tế, xã hội và môi trường. Trong các yếu tố góp phần tăng trưởng, yếu tố K ( vốn) từ khu vực công và khu vực tư nhân được chú trọng. Các chính sách hướng tới chất lượng tăng trưởng bao gồm: - Nâng cao năng lực quản lý nền kinh tế và chống tham nhũng. - Giảm các méo mó của thị trường, thúc đẩy K (vốn).
- Giảm thiểu các thất bại thị trường ảnh hưởng tới H (vốn nhân lực), R (vốn thiên nhiên). - Hoàn thiện pháp luật.1: Khung phân tích chất lượng tăng trưởng Chính sách về tăng H trưởng (Vốn 1. Nâng cao năng TFP Chất lượng nhân lực) lực quản lý nền tăng trưởng kinh tế và chống - Tăng trưởng tham nhũng K ổn định trưở Tăn - Tăng công ng (Vốn vật g 2. Giảm các méo mó của thị trường, chất) bằng và phúc lợi xã hội thúc đẩy K - Môi trường 3.
Giảm thiểu các TFP được bảo vệ thất bại thị trường R ảnh hưởng tới H, R (Vốn thiên 4. Hoàn thiện pháp nhiên) luật Nguồn: Dựa theo Thomas và cộng sự (2000) 2.Đầu tư công Đầu tư công (hay đầu tư của Nhà nước) bao gồm tất cả các khoản đầu tư do chính phủ và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước tiến hành (Vũ Tuấn Anh, 2010). 6 Đầu tư công được thực hiện theo một cơ cấu nhất định tùy theo các quyết định lựa chọn của chính phủ muốn ưu tiên mục tiêu nào cũng như cách thức quản lý, sử dụng các khoản đầu tư, từ đó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng. Cơ cấu đầu tư công xét trên khía cạnh đầu vào thường được xem xét dựa trên các nguồn và tỷ trọng của chúng.
Đầu tư công đến từ 4 nguồn: ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), tín dụng nhà nước và các nguồn khác. * Các lĩnh vực đầu tư công ( luật đầu tư công, 2014): - Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. - Đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. - Đầu tư và hỗ trợ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích.
- Đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công tư. * Vai trò của Nhà nước tron g đầu tư công qua các quan điểm (Nguyễn Thị Cành, 2008): Quan điểm ủng hộ cơ chế thị trường cạnh tranh của trường phái tân cổ điển: Theo quan điểm này thì các doanh nghiệp, với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho chính mình, sẽ tìm kiếm những cơ hội đầu tư tốt nhất, và như vậy nhà nước không cần can thiệp thông qua việc phân bổ nguồn lực để tạo ra một cơ cấu đầu tư hợp lý cho doanh nghiệp, mà sự vận động của thị trường sẽ thực hiện tốt vai trò này.Vai trò nhà ước n trong trường hợp này chỉ nên dừng lại ở mức là cung cấp các hàng hóa công cần thiết cho nền kinh tế phát triển như cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội mà nếu để thị trường tự thân vận động thì không thể đáp ứng được. Lý thuyết tân cổ điển được xây dựng trên giả định thị trường cạnh tranh hoàn hảo tuy nhiên trên thực tế đây là điều hầu như không thể có được. Quan điểm ủng hộ sự can thiệp của nhà nước: Quan điểm này cho rằng quá trình tự điều tiết của thị trường sẽ không đem laị kết quả tối ưu mong đợi do việc tồn tại sự không hoàn hảo thị trường đặc biệt là ở các nước đang phát triển.
Hầu hết các nước đang phát triển đều có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu nên mục tiêu chuyển dịch cơ cấu là nội dung 7 cơ bản của tiến trình công nghiệp hóa và nhà nước cần phải tạo ra sự khởi động ban đầu để hình thành nên các ngành công nghiệp. Sự can thiệp của nhà nước, nhất là trong việc phân bổ các nguồn lực cho công nghiệp là rất cần thiết. Tuy nhiên sự can thiệp của nhà nước quá mức có thể không hiệu quả và sẽ bóp méo thị trường gây trở ngại cho tiến trình công nghiệp hoá và phát triển kinh tế. Mặc dù, các quan điểm khác nhau về đầu tư và tăng trưởng với mức độ can thiệp khác nhau của Nhà nước, nhưng đa số các quan điểm đều cho rằng vai trò nhà nước là cung cấp các hàng hóa công cần thiết cho nền kinh tế phát triển như cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội.
Đối với kinh tế Việt Nam, tăng trưởng GDP bình quân trong giai đo ạn 2001-2012 là 6-7% (TCTK, 2012), mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư công, đóng vai trò chủ đạo trong tăng trưởng. Đầu tư công có hai tác động đến nền kinh tế: - Tác động chèn lấn: Đầu tư công gia tăng sẽ khiến đầu tư tư nhân trong nước bị thu hẹp, do đầu tư công tăng làm tăng lãi suất, từ đó tác động tiêu cực đến khu vực tư nhân. - Tác động hỗ trợ: Đầu tư công cung cấp các cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi hơn, ngoài ra nhu cầu về hàng hóa dịch vụ của chí nh phủ cũng góp phần tăng cầu của khu vực tư nhân, từ đó kích thích khu vực tư nhân phát triển. Đầu tư tư nhân Đầu tư tư nhân (Đầu tư tư nhân trong nước) bao gồm tất cả các khoản đầu tư do các doanh nghiệp ngoài nhà nước, các cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể thực hiện.
Doanh nghiệp ngoài nhà nước gồm các doanh nghiệp vốn trong nước, mà nguồn vốn thuộc sở hữu tập thể, tư nhân một người hoặc nhóm người hoặc có sở hữu Nhà nước nhưng chiếm từ 50% vốn điều lệ trở xuống. Khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước gồm: Các hợp tác xã; Các doanh nghiệp tư nhân; Các công ty hợp danh; Các công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân; Các công ty cổ phần không có vốn Nhà nước; Các công ty cổ phần có tỷ lệ vốn Nhà nước từ 50% vốn điều lệ trở xuống (TCTK,2010). Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế 8 Đầu tư tác động lên tăng trưởng kinh tế ở cả hai mặt: tổng cung và tổng cầu.Tác động của đầu tư đến tổng cung: Trên góc độ tổng cung, đầu tư quyết định đến sự gia tăng vốn sản xuất của nền kinh tế, mở rộng quy mô cũng như nâng cao trình đ ộ công nghệ sản xuất thúc đẩy tăng trưởng (Mankiw, 2000). Tác động của đầu tư công đến tổng cung được biểu hiện qua hàm sản xuất tổng hợp cho nền kinh tế: Y= A.f(K,G,N,L) Trong đó Y là tổng sản lượng, K: vốn tư nhân, G: vốn đầu tư công, N: nguồn tài nguyên thiên nhiên, L: lực lượng lao động, A: trình độ công nghệ năng suất các yếu tố.
Mô hình cho thấy đầu tư công có thể làm tăng đầu tư tư nhân và làm thay đổi công nghệ, từ đó làm tăng năng suất của nền kinh tế qua biến A của hàm sản xuất. * Hệ số ICOR : Hệ số ICOR phản ánh việc tạo thêm một đơn vị tăng trong sản lượng thì cần tăng lên bao nhiêu đơn vị vốn, hoặc để tạo thêm một phần trăm tăng trưởng GDP thì cần bao nhiêu phần trăm tỉ phần chi tiêu đầu tư trong GDP. Hệ số ICOR có thể được tính bằng công thức sau (World Bank, 2012): ∆K I ∆K Y Y = = = ICOR ∆Y ∆ Y ∆ Y Y Y Trong đó, K : Vốn Y : Sản lượng ∆K : Thay đổi lượng vốn giữa 2 thời kỳ ∆Y : Thay đổi sản lượng giữa 2 thời kỳ 9 I : Chi tiêu Đầu tư Hệ số ICOR cho biết hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Thông thường hệ số ICOR càng cao thì phản ánh nền kinh tế đó sử dụng vốn càng kém hiệu quả.