Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐỊA PHƯƠNG 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Quỹ Đầu tư phát triển địa phương Năm 1997, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép thành lập thí điểm Quỹ Đầu tư phát triển đô thị thành phố Hồ Chí Minh với mục đích huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đô thị. Sau đó mô hình quỹ đầu tư phát triển địa phương được mở rộng ra các tỉnh, thành trên cả nước.
Tại một số văn bản pháp luật có đề cập đến các khía cạnh khác nhau về Quỹ đầu tư phát triển địa phương như sau: Theo Nghị định số 147/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư phát triển địa phương định nghĩa Quỹ Đầu tư phát triển địa phương như sau: “Quỹ đầu tư phát triển địa phương là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) thành lập, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, bảo toàn và phát triển vốn; thực hiện chức năng cho vay và đầu tư tại địa phương theo quy định tại Nghị định này”. [5] Theo Khoản 19 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước định nghĩa về quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách như sau: “Quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách là quỹ do cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập, hoạt động độc lập với ngân sách nhà nước, nguồn thu, nhiệm vụ chi của quỹ để thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật”. [16] Theo Điều 8 Luật Ngân sách nhà nước, trong đó nêu:“Ngân sách nhà nước không hỗ trợ kinh phí hoạt động cho các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách. Trường hợp được ngân sách nhà nước hỗ trợ vốn điều lệ theo quy 8 định của pháp luật thì phải phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước và chỉ thực hiện khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: được thành lập và hoạt động theo đúng quy định của pháp luật; có khả năng tài chính độc lập; có nguồn thu, nhiệm vụ chi không trùng với nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước”.
[16] Như vậy, từ những văn bản trên có thể thấy Quỹ đầu tư phát triển địa phương được xác định là một quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, do các Ủy ban Nhân dân tỉnh thành lập. Tính chất đặc biệt của Quỹ này là hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, mà tập trung vào bảo toàn và phát triển vốn. Chức năng chính của Quỹ là cho vay và đầu tư tại cấp địa phương trong một số lĩnh vực dự án cụ thể được quy định bởi địa phương phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Trong bối cảnh mà sự phát triển của địa phương ngày càng quan trọng, Quỹ đầu tư phát triển địa phương thể hiện sự tập trung và quan tâm của Chính phủ đối với việc thúc đẩy tiềm năng phát triển tại mỗi địa phương.
Với chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước, Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh đảm bảo sự hiệu quả trong việc quản lý và sử dụng Quỹ, tạo nên một liên kết mạnh mẽ giữa chính quyền địa phương và Quỹ đầu tư phát triển địa phương. Ngoài ra, các văn bản pháp luật cũng cụ thể hóa nguyên tắc và phạm vi hoạt động của Quỹ đầu tư phát triển địa phương. Quỹ đầu tư phát triển địa phương hoạt động độc lập với ngân sách nhà nước, có khả năng tài chính độc lập và thực hiện các hoạt động cho vay, đầu tư, ủy thác và nghiệp vụ phát hành trái phiếu chính quyền địa phương theo quy định. Tóm lại, Quỹ đầu tư phát triển địa phương là một công cụ tài chính độc lập, không vì mục tiêu lợi nhuận, tạo điều kiện cho sự phát triển hạ tầng và kinh tế tại cấp địa phương.
Quỹ này thể hiện cam kết của Chính phủ đối với việc khai thác và sử dụng tiềm năng phát triển tại mỗi địa phương, đóng góp vào mục tiêu phát triển tổng thể của đất nước. Vốn và sử dụng vốn của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương Vốn của Quỹ ĐTPTĐP tổng hợp vốn chủ sở hữu và vốn huy động được quản lý và sử dụng theo quy định của Nghị định số 147/2020/NĐ-CP. Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát triển và các nguồn vốn khác của chủ sở hữu theo quy định pháp luật. Vốn huy động được thực hiện thông qua việc vay vốn, phát hành trái phiếu và các hình thức khác, nhằm hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển địa phương theo quy định pháp luật được quy định cụ thể như sau: - Theo Khoản 1 Điều 2.
Giải thích từ ngữ Nghị định số 147/2020/NĐ- CP quy định “Vốn hoạt động là tổng số vốn chủ sở hữu và vốn huy động của Quỹ đầu tư phát triển địa phương tại một thời điểm”. [5] - Tại Khoản 1 Điều 35 Vốn chủ sở hữu Nghị định số 147/2020/NĐ-CP quy định “Vốn chủ sở hữu của Quỹ đầu tư phát triển địa phương bao gồm: a) Vốn điều lệ do chủ sở hữu cấp. b) Quỹ đầu tư phát triển. c) Các nguồn vốn khác của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật”.
[17] Tại Khoản 1 Điều 35 Vốn huy động Nghị định số 147/2020/NĐ-CP quy định, Quỹ đầu tư phát triển địa phương được huy động các nguồn vốn trung và dài hạn từ các tổ chức trong và ngoài nước theo các hình thức sau đây: “a) Vay các tổ chức trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật. Việc vay vốn nước ngoài thực hiện theo quy định của pháp luật về vay nợ nước ngoài. b) Phát hành trái phiếu Quỹ đầu tư phát triển địa phương. c) Các hình thức huy động vốn trung và dài hạn khác theo quy định của pháp luật”.
[5] Tại các quy định liên quan đến hoạt động của Quỹ ĐTPTĐP không nêu cụ thể khái niệm về sử dụng vốn, tuy nhiên theo nội dung của các văn bản trên thì có thể hiểu: Sử dụng vốn của Quỹ ĐTPTĐP là việc cơ quan có thẩm quyền trong 10 Quỹ ĐTPTĐP sẽ phân bố, trích lập vốn của chủ sở hữu của Quỹ ĐTPTĐP cũng như nguồn vốn huy động ra bên ngoài để thực hiện các hoạt động, nhiệm vụ của Quỹ ĐTPTĐP. Nguyên tắc sử dụng vốn của Quỹ ĐTPTĐP gồm có một số nguyên tắc sau: - Quỹ ĐTPTĐP có trách nhiệm bảo toàn, đảm bảo an toàn vốn và tài sản theo quy định. - Sử dụng vốn đúng mục đích. - Thực hiện hoạt động cho vay các dự án theo danh mục, loại hình được UBND tỉnh, thành phố phê duyệt từng năm hoặc trong từng thời kỳ.
- Thực hiện hoạt động đầu tư vào các dự án, đầu tư thành lập doanh nghiệp, thực hiện hoạt động góp vốn, mua cổ phần của các công ty cổ phần, mua phần góp vốn của các công ty khác trong phạm vi danh mục, loại hình được UBND tỉnh, thành phố phê duyệt từng năm hoặc trong từng thời kỳ. - Bên cạnh đó, vốn điều lệ của Quỹ ĐTPTĐP còn có thể ủy thác cho các tổ chức khác thực hiện nghiệp vụ cho vay, đầu tư thay cho Quỹ ĐTPTĐP heo hợp đồng ủy thác. Hiệu quả sử dụng vốn của Quỹ đầu tư phát triển địa phương Hiệu quả là phạm trù phản ánh mặt chất lượng các hoạt động; phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất (lao động, máy móc thiết bị, nguyên liệu, tiền vốn) trong quá trình tiến hành các hoạt động của con người Hiệu quả có thể được đánh giá ở nhiều góc độ khác nhau với các đối tượng, phạm vi và thời kỳ cũng khác nhau. Điều quan trọng là cần đứng trên từng góc độ rất cụ thể để đánh giá hiệu quả.
Chính vì vậy, có thể phân biệt các loại hiệu quả theo các tiêu chí khác nhau. Dưới đây là các cách phân biệt chủ yếu: - Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu kinh tế của một thời kỳ nào đó. Các mục tiêu kinh tế thường là tốc độ tăng trường kinh tế, tổng sản phẩm quốc nội, thu nhập quốc dân và thu nhập quốc dân bình quân đầu người… 11 - Hiệu quả xã hội là phạn trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định. Các mục tiêu xã hội thường là giải quyết công ăn, việc làm, xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao phúc lợi xã hội, mức sống và đời sống văn hóa… - Hiệu quả kinh tế - xã hội phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội để đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định.
Các mục tiêu kinh tế - xã hội thường là tốc độ tăng trưởng kinh tế, tổng sản phẩm quốc nội, thu nhập quốc dân và thu nhập quốc dân bình quân đầu người, giải quyết công ăn, việc làm, xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao phúc lợi xã hội, mức sống và đời sống văn hóa, tinh thần cho người lao động, đảm bảo và nâng cao sức khỏe cho người lao động, cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo vệ sinh môi trường… Nếu gắn đánh giá việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đã kể trên với mối quan hệ với hao phí nguồn lực để đạt được chúng sẽ làm xuất hiện phạm trù hiệu quả xã hội. Hiệu quả kinh tế xã hội gắn với nền kinh tế hỗn hợp và được xem xét ở góc độ quản lý vĩ mô. - Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh doanh xác định. Chỉ các doanh nghiệp kinh doanh mới nhằm vào mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và vì thế mới cần đánh giá hiệu quả kinh doanh.Trong hiệu quả kinh doanh được chia làm 2 nhóm chính: + Hiệu quả kinh doanh tổng hợp: phản ánh trình độ sử dụng mọi nguồn lực để đạt mục tiêu của toàn doanh nghiệp hoặc từng bộ phận của nó.
+ Hiệu quả lĩnh vực hoạt động: Hiệu quả lĩnh vực hoạt động chỉ đánh giá trình độ sử dụng một nguồn lực cụ thể theo mục tiêu xác định. Đó có thể là hiệu quả sử dụng lao động, hiệu quả sử dụng vốn và tài sản, hiệu quả đầu tư cổ phiếu ….